ĐỨC MARIA, NGƯỜI NỮ CỦA THẦN KHÍ

ĐỨC MARIA: NGƯỜI NỮ CỦA THẦN KHÍ

Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty SDB

 

“Đứng gần bên thập giá Đức Giê-su có thân mẫu Người,

Bà Ma-ri-a vợ ông Cơ-lô-pát, cùng với mà Ma-ri-a Mác-đa-la.

Khi thấy thân mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh,

Đức Giê-su nói với thân mẫu rằng: ‘thưa bà, đây là con của bà’,

Rồi Người nói với môn đệ: Đây là mẹ của anh.

Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình”

(Ga 19: 25-27)

 

            ‘Ai cũng có thể sống, và sống Thánh Thần cách thâm sâu’ đó là một khảng định căn bản mà chúng ta muốn đạt tới sau khi đọc cuốn tiểu luận này. Vì, nếu không đạt được điều này, thì hầu hết các khảng định quan trọng nhất của Đức Giê-su với Ni-cô-đê-mô và với các môn đệ thâm tín về sự hiện hữu và tác động của Thần Khí Người đều trở thành vô nghĩa. Nhiều người chúng ta có khuynh hướng coi trường hợp các tông đồ, đặc biệt trường hợp của Phao-lô, hay nhiều vị thánh khác như những luật trừ hiếm hoi của tác động Thần Khí Chúa. Có điều nào tai hại cho sứ điệp Tin Mừng cho bằng lối suy nghĩ tiêu cực và hạn hẹp này! Nó triệt tiêu mọi sức sống trong sứ điệp Tin Mừng của Đức Giê-su, và làm cho niềm tin Ki-tô hữu nói chung, cũng như ơn gọi linh mục - tu sĩ nói riêng, trở nên khô cứng và thụ động, như đã từng xẩy ra cho nhiều tôn giáo khác mà thôi. Ngoài ra, với mục đích đi tìm cho ra một gương sáng hòng khích lệ, chúng ta còn cần có một hình mẫu rất thực tế đời thường, cũng rất gần gũi về tâm lý, để chúng ta thường xuyên chiêm ngắm và đối chiếu với cuộc sống mình.

 

Ngoài việc chiêm ngắm Đức Giê-su Ki-tô như hình mẫu đầu tiên của sống Thần Khí trên cõi trần này (tự nó đã là một trong một mạc khải vô cùng vĩ đại), hoặc chiêm ngắm Phao-lô, như chúng ta đã cố gắng làm trong suốt tập sách này, chúng ta vẫn còn cần ra cho mình một điểm qui chiếu cụ thể hơn nữa. Riêng đối với các gia đình tu sĩ, chiêm ngưỡng và trở về với đoàn sủng (charisma tức ‘ân điển của Thần Khí’) của các vị Sáng Lập là điều mà Công Đồng Va-ti-can mời gọi phải làm liên tục, như nguyên lý căn bản của việc canh tân đời tu của cá nhân cũng như tập thể của hội viên hội dòng. Cũng trong cùng một mục đích đó, trong phần kết của cuốn tiểu luận này, chúng ta không thể không đề cập tới trường hợp của một cô thôn nữ, tên gọi là Ma-ri-a, người mà tuyệt đại đa số các tín hữu Công Giáo coi như một diện mạo rất thực tế đời thường, đồng thời cũng rất gần gũi về tình cảm tâm lý, tới độ họ thân thương gọi người là ‘Mẹ Ma-ri-a’. Chính vì thế, thiết nghĩ giờ đây chúng ta nên dành một ít thời giờ để chiêm ngưỡng Ma-ri-a như ‘Người Nữ của Thần Khí’; và dưới góc cạnh đó, chúng ta sẽ đặc biệt tìm thấy phương thế hữu hiệu, để có thể sống đời thường của mình trong sức sống mãnh liệt của Thánh Thần, và sớm biến ước mơ biến chính mình nên những con người ‘sống Thần Khí’ mau trở thành hiện thực.

 

Trước hết, tạm gác qua một bên việc chiêm ngưỡng ‘Người Nữ của Thần Khí’ như được phác họa trong bức tranh mô tả Thần Khí đang xuống trên Cô, trong giờ Truyền Tin hay trong ngày Lễ Ngũ Tuần…, những khoảng khắc mà Cô xuất hiện như một nhân vật được Thánh Thần Chúa ngự vào; đó quả là những bức tranh quí giá, mà Thánh Sử Lu-ca đã cất công phác họa để mô tả về Mẹ. Về điều này ta cũng nên lưu tâm tới một sự kiện nhỏ nhưng đầy ý nghĩa, đó là: vô tình hay hữu ý, hai biến cố chính là hai sự kiện mở đầu và kết thúc toàn bộ cuộc đời Mẹ như được Thánh Kinh để cập tới: biến cố ‘Truyền Tin’, với lời khảng định của Thiên Sứ về việc Thánh Thần ngự xuống và rợp bóng trên Cô, và biến cố khai mở Hội Thánh ngày Lễ Ngũ Tuần khi mà, Thánh Thần dưới hình như ‘lưỡi lửa’ đậu xuống trên nhón đang hiệp nhất cầu nguyên, trong đó có các môn đệ của Thầy Giê-su, ‘mấy người phụ nữ, với bà Ma-ri-a thân mẫu của Đức Giê-su, và với anh em của Đức Giê-su (xem Cv 1:14; 2:3-4). Điều này ngụ ý khảng định một điều là: trọn cuộc đời của nhân vật Tin Mừng này được, từ đầu tới cuối gói gọn trong tác động của Thần Khí. Tuy nhiên, điều chúng ta thật sự cần làm là, phân tích các dữ kiện ít ỏi mà các sách Tin Mừng viết về Mẹ, những dữ liệu thoạt nhìn, không mấy cho phép phát hiện ra hoạt động của Thánh Thần từ bên trong…, nhưng lại hé mở cho thấy sức mạnh và hoạt động vô cùng phong phú và hữu hiệu của Thánh Thần trong cuộc sống một người tầm thường; nhờ đó ta nắm bắt được, thế nào là sống Thần Khí. Kinh nghiệm này sẽ trở thành một trong các cảm nghiệm vĩ đại nhất mà một Ki-tô hữu có thể có được.

 

Theo truyền thuyết lâu đời, Lu-ca - tác giả cuốn Tin Mừng thứ ba và sách Công Vụ Các Tông Đồ đã là một người được gần gũi và sống thân mật cách đặc biệt với Ma-ri-a, mẹ của Đức Giê-su. Có lẽ chính vì thế mà ông đã viết ra được hai chương đầu của cuốn Phúc Âm thứ ba, hai chương mà nhiều người khi đọc đã nhận ra ngay: đó không phải là những hiểu biết khách quan của tác giả về thời thơ ấu của trẻ Giê-su, mà đúng hơn là tâm tình bên trong của một nhân vật đã từng sống suyên suốt thời gian đó; qua ngòi bút tinh tế của Lu-ca, nhân vật này đang bộc lộ dần những cảm nghiệm sâu xa nhất trong đời nội tâm của mình.

 

Hai chương đầu của Phúc Âm Lu-ca tường thuật 07 sự kiện liên quan tới việc Hài Nhi Giê-su sinh ra và lớn lên, cùng với các biến cố xảy ra chung quanh các sự kiện ấy, đó là:

1-     Báo tin về việc sinh hạ Gio-an Tẩy Giả,

2-     Truyền tin cho Ma-ri-a về việc sinh hạ Hài Nhi Giê-su,

3-     Ma-ri-a viếng thăm bà chị họ Ê-li-sa-bét,

4-     Các diện biến xảy ra chung quanh vụ Gio-an được cắt bì và đặt tên,

5-     Tường thuật chi tiết về việc Hài Nhi Giê-su chào đời tại Bê-lem,

6-     Việc cắt bì và hiến dâng Hài Nhi Giê-su trong đền thánh theo tục lệ

7-     Biến cố tìm lại được trẻ Giê-su thất lạc ba ngày trong đền thờ Giê-su-sa-lem

Trong tất cả bẩy sự kiện này, Lu-ca ghi nhận một số chi tiết, tự nó xem ra rất nhỏ nhoi nhưng lại lột tả được tâm tư của Ma-ri-a, người đã sống suyên suốt các biến cố đó, để rồi sau này chắc hẳn chính người đã bộc lộ cách chân thành cho tác giả; các chi tiết đó như sau:

1-     Trong biến cố truyền tin cho Da-ra-ri-a:

Em bé sẽ nên cao cả trước mặt Chúa… Và ngay khi còn trong lòng mẹ, em đã đầy Thánh Thần” (1: 15)

2-     Trong biến cố truyền tin cho Ma-ri-a:

Sứ thần đáp: Thánh Thần  sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa” (1: 35)

3-     Trong biến cố viếng thăm bà chị họ:

Ê-li-sa-bét vừa nghe tiếng bà Ma-ri-a chào, thì đức con trong bụng nhảy lên, và bà được đầy tràn Thánh Thần, liền kêu lớn tiếng và nói…” (1: 41).

4-     Trong biến cố đặt tên cho bé Gio-an:

Bấy giờ người cha của em, tức là ông Da-ca-ri-a được đầy Thánh Thần, liền nói tiên tri rằng” (1: 67)

5-     trong biến cố phức tạp sinh hạ hài nhi Giê-su:

Còn bà Ma-ri-a thì hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng” (2: 19)

6-     Trong biến cố dâng hiến theo tục lệ Hài Nhi Giê-su cho Đức Chúa:

Có một người tên là Si-mê-ôn, ông là người công chính và sùng đạo, ông những mong chờ niềm an ủi của Ít-ra-en, và Thánh Thần hằng ngự trên ông” (2: 25)

7-      sau biến cố tìm lại được trẻ Giê-su bị thất lạc:

Riêng mẹ Người thì hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng” (2: 51)

.

Đọc các đoạn văn trên, chúng ta có thể phát hiện ra một số nội dung tàng ẩn trong cách cô thôn nữ Ma-ri-a đã sống Thần Khí trong những ngày đầu của lịch sử cứu độ nhân loại; hay đúng hơn, chúng ta nên gọi cho hợp hơn với đề tài chúng ta đang bàn tới ở đây: đó là ‘kỷ nguyện của Chúa Thánh Thần’.

 

1-     Trước hết, Ma-ri-a đã xác tín rằng: ‘mình đã được đưa vào quĩ đạo, được sống trong sức mạnh của Thần Khí,

Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà” (Lc 1: 35).

Thâm tín về ‘sự hiện diện’ sinh động và sáng tạo của Thần Khí Chúa nơi mình, chính là một khởi đầu quan trọng cho việc tích cực sống Thần Khí trong mỗi người. Ma-ri-a đã được cho biết điều này, nhờ mạc khải của Thiên Sứ, cũng như qua cửa miệng của bà chị họ E-li-sa-bét; thế nhưng chính Cô cũng đã thâm tín và chấp nhận để cho Thần Khí bắt đầu hoạt động nơi mình:

Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa! xin Chúa cứ làm cho tôi như lời Thiên Sứ nói” (Lc 1: 38).

Chúng ta cũng phải vậy thôi, Hội Thánh đã dạy cho các Ki-tô hữu biết: Phép Rửa (và sau này còn được nhấn mạnh hơn qua việc chịu Phép Thêm Sức) đưa họ vào sống trong kỷ nguyên của Thánh Thần, và họ hằng được nhắc nhở về điều đó:

“Tôi tin Thánh Thần là Thiên Chúa, và là Đấng ban sự sống” (kinh Tin Kính).

Đức Tin phải dẫn họ tới một xác tín sâu xa về sự thật căn bản này, và Đức Cậy sẽ phép họ ngày càng chấp nhận, cũng như để mình hoàn toàn được hướng dẫn và chi phối bởi chân lý lớn lao hơn hết thảy đó, để rồi nhờ thế, họ đạt được Đức Ái là chính Thánh Thần Tình Yêu.

 

2-     Vừa nhận biết Thánh Thần hiện diện và hoạt động nơi mình, thì lập tức cô thôn nữ Ma-ri-a quê mùa cũng dễ dàng bắt đầu cảm nhận sự hiện diện của Thánh Thần nơi biết bao người khác sống chung quanh mình: nơi bà chị họ Ê-li-sa-bét chẳng hạn,

Bà được đầy tràn Thánh Thần” (Lc1: 41-42);

nơi thầy tư tế Da-ca-ri-a - cha của bé Gio-an:

Bấy giờ người cha của em, tức là ông Da-ca-ri-a được đầy Thánh Thần” (Lc 1: 67);

nơi chính con trẻ Gio-an trước cả khi nó được sinh ra:

ngay khi còn trong lòng mẹ, em đã đầy Thánh Thần” (Lc 1: 15.17);

và nơi cụ già Si-mê-ôn phục vụ trong đền thánh:

Thánh Thần hằng ngự trên ông” (Lc 2: 25. 26. 27).

Khả năng nhận ra Thánh Thần hiện diện nơi những người chung quanh cho phép ta nhận thức ra rằng: một ‘kỷ nguyên Thần Khí’ đã thực sự khai mở, đồng thời cũng cho ta khả năng, nhìn ra sự hiện diện và tác động tích cực của Thần Khí Chúa là chan hòa, không phải chỉ trong các biến cố trọng đại và nơi vài nhận vật xuất chúng, mà cả trong những điều nhỏ mọn và nơi các con người tầm thường. Điều đó cũng có nghĩa là, nếu tôi chưa bao giờ từng nhận ra Thánh Thần Chúa hoạt động nơi kẻ khác, đặc biệt nơi tâm hồn các người được ủy thác cho tôi coi sóc và chung sống, thì đó cũng có nghĩa là tôi chưa bao giờ nhận biết Thần Khí Chúa đang hoạt động trong chính tôi. Chỉ qua một vài sự kiện đơn sơ được tác giả Lu-ca phác họa, chúng ta đã có thể nhận ra một điều: một con người mọn hèn như Ma-ri-a cũng đã có thể đạt được khả năng này tới mức độ bén nhạy và sâu sắc như thế nào. Điều này đủ để minh chứng cách thuyết phục nhất rằng: Ma-ri-a quả xứng đáng được các thế hệ Ki-tô hữu sau này xưng tụng là: ‘Người Nữ của Thần Khí’.

 

3-     Còn một điều nữa mà mới nghe thoáng qua, chúng ta hình như không thấy có mối liên hệ nào với đời sống trong Thánh Thần; nhưng thật ra, đó lại chính là hoạt động then chốt nhất của ‘sống Thần Khí’, đó là khả năng đi sâu vào nơi thâm sâu nhất của cõi lòng mình. Giữa biết bao biến cố thăng trầm, nhất là khi chúng dồn dập xảy tới, các biến cố gây xáo trộn cả về mặt tâm lý lẫn tình cảm…; hay đúng hơn, chính những lúc như thế, Ma-ri-a chân chất đã duy trì được khả năng tuyệt vời mà một đạo sĩ chân tu chưa chắc đạt tới được, đó là: đi vào trong thẳm sâu cõi lòng, để cảm nhận sự hiện diện của sức sống Thần Linh của Thiên Chúa;

Còn bà Ma-ri-a thì hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng” (Lc 2: 19. ).

Giữa các xáo trộn khủng khiếp của một phụ nữ, bụng mang dạ chửa tìm nơi sinh hạ con mình tại một nơi hoàn toàn xa lạ, thế mà Ma-ri-a vẫn thành công giữ mình được thình lặng và hồi tâm; hay trải qua cuộc tìm kiếm đứa con thất lạc đã kéo dài qua ngày thứ ba, trong tất cả lo âu và khắc khoải, người mẹ này vẫn giữ được tâm trạng:

hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng” (Lc 2: 51).

Khả năng này, một đàng bộc lộ cách thuyết phục nhất rằng: Ma-ri-a đúng là người ‘đầy Thánh Thần’, đàng khác nó cũng cho thấy: Ma-ri-a đã biết dùng tuyệt chiêu để tiếp tục phát huy và khai thác sức sống của Thần Khí đã khởi sự nơi mình. Có thể đây chính là điều được Lu-ca coi như tiêu biểu nhất trong số các hiểu biết của ông về Ma-ri-a – Thần Khí, hay cũng có thể, đó là điều thiết thân nhất mà Thân Mẫu của Đức Giê-su đã ghi nhận như một nét không bao giờ có thể phai mờ trong tâm khảm đời sống mình, cả khi tuổi đời đã dần xế bóng. Nét son đó chính là: con người sống Thần Khí phải là người đạt được khả năng đi vào cõi thâm sâu của tâm hồn mình, ngay cả giữa các biến cố xáo trộn nhất của cuộc sống.

 

Ôi thật tuyệt vời, một cây cổ thụ của ‘sống Thần Khí’, qua bức tranh Lu-ca phác họa về ‘Người Nữ của Thần Khí’! Không dài dòng cầu kỳ, nhưng bức tranh đó đã quá đủ để giúp ta nắm bắt được những nét kỷ hà trong dung mạo của bất kỳ Ki-tô hữu nào dám tự nhận mình là con của Đức Ma-ri-a. Ngày nay, chúng ta quen gọi khả năng này là tịnh tâm, là lắng đọng, là cầu nguyện, là thiền yoga…, thì một nguyên tắc lớn đã được khảng định: tất cả các điều trên chỉ là những thực hành hay phương thế để đạt được mục tiêu tối hậu là, sống và sống cao độ như những công dân trong kỷ nguyên của Thần Khí, và làm cho sức sống Thần Khí bừng lên trong thế giới hôm nay.

 

Tóm lại, chúng ta có thể khảng định như sau: nhờ lời chào của Sứ Thần Gáp-ri-en, Ma-ri-a biết chắc rằng mình được Thánh Thần Chúa ngự xuống cách tràn đầy. Sự hiểu biết với tất cả niềm xác tín này mạnh tới độ, nó khởi sự nơi Mẹ một tiến trình biến đổi sâu sắc, trước hết là biến đổi nội tâm với khả năng đi vào thẳm sâu cõi lòng mình nơi Thánh Thần ngự trị. Trong cái nội tâm thâm sâu đó, Mẹ nhận thấy rằng: tất cả các biến cố dồn dập đang xảy ra cho mình và cho nhân loại, thay vì làm cho mình đóng kín cõi lòng lại, qua các phản ứng tình cảm tự nhiên như ‘hỉ-nộ-ái-ố’, lại hé mở ra cho mình cả một chân trời mới, chân trời của kế hoạch cứu độ có khả năng liên kết con người trở lại với Thiên Chúa, và giữa con người với nhau. Rồi cũng kể từ đó, qua lăng kính của đời sống trong Thần Khí, Mẹ cũng nhận ra sự hiện diện sinh động của Thánh Thần nơi nhiều người sống quanh mình, một khả năng làm cho đời sống Mẹ chan hòa với hết mọi người, nhất là những người đầy thiện chí, và sẵn sàng tích cực cộng tác với họ trong việc thực hiện kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa.

 

Còn nếu muốn biết sâu hơn nữa về ‘Người Nữ của Thần Khí’ này, thì… tuy vẫn giữ sự yếu kém thấp hèn cố hữu của mình, Ma-ri-a đã được biến đổi cách sâu xa như nhờ tác động mạnh mẽ của Thánh Thần. Chúng ta hãy cùng nghe Tông Đồ Gio-an, người môn đệ đã được Đức Giê-su trên Thập Giá trao thân mẫu mình cho, thuật lại qua hai biến cố mà cá nhân ông cho là rất đặc sắc (tuy rằng tự nó, đó chỉ là những sự kiện khá tầm thường), đó là: sự lạ biến nước lã thành rượu ngon tại bữa tiệc cưới ở Ca-na, và việc Thân Mẫu của Đức Giê-su nhận lấy ông làm con của bà, qua lời ủy thác trong giờ phút bi thương nhất. Chúng ta hãy dành chút thời giờ để cùng suy gẫm về hai biến cố trên:

 

Biến cố, thường được gọi là ‘phép lạ tiệc cưới Ca-na’, được Gio-an tường thuật cách đặc biệt trang trọng ngay đầu chương hai cuốn Tin Mừng ông viết, xảy ra vào thời điểm khởi đầu giai đoạn, Đức Giê-su rời bỏ làng quê Na-da-rét để lên đường rao giảng sứ điệp Tin Mừng cứu độ, vào “ngày thứ ba” trong tuần lễ đầu tiên, như Gio-an tỉ mỉ ghi nhận (Ga 2:1). Đức Giê-su mới vừa tập hợp được vài môn đệ đầu tiên, và có vẻ như Thân Mẫu Ngưới còn chưa chịu xa lìa;

Sau đó, Người cùng với thân mẫu, anh em và các môn đệ khác xuống Ca-phác-na-um” (2: 12);

thực tế, Bà sẽ còn luôn hiện diện đâu đó trong suốt giai đoạn khai mở ‘kỷ nguyên của Thần Khí’, như chúng ta có thể gọi sứ mạng của Đức Giê-su như thế. Bối cảnh của ‘phép lạ’ cũng chỉ là một vụ việc chẳng có gì đáng đề cao; nó tầm thường như trăm ngàn trục trặc có thể xảy đến trong đời sống thường ngày: trong một bữa tiệc cưới, đột nhiên người ta thiếu rượu, và điều này chắc chắn sẽ làm cho những người trong cuộc không khỏi lo lắng, bẽ mặt. ‘Người Nữ của Thần Khí’ được Gio-an mô tả chính là, một trong những người đầu tiên nhận ra trục trặc đó, để rồi trong Thánh Thần, Bà đã tự biến mình từ một thực khách tham gia tiệc cưới cách thụ động (cùng lắm là có thể có một vài phản ứng thông thường như lo lắng, như cảm thông), để trở thành một người chủ động. Trước hết Bà đi vào một cuộc đối thoại đầy thân mật và tin tưởng với con mình;

Thân Mẫu Đức Giê-su nói với Người: ‘họ hết rượu rồi’ (2: 3).

Tiếp theo Bà đóng vai trò chủ động, coi sứ mạng phục vụ như công tác được trao phó cho mình:

Thân mẫu Người nói với gia nhân: ‘Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo (2: 5).

Quả vậy, qua ngòi bút tinh tế, Gio-an ghi nhận: dấn thân phục vụ tích cực, và củng cố niềm tin của các môn đệ được Ma-ri-a coi là sứ mệnh dành cho mình

Đức Giê-su đã làm phép lạ đầu tiên này tại Ca-na, miền Ga-li-lê, và bày tỏ vinh quang của Người. Các môn đệ đã tin vào Người” (2: 11).

Thật là một cuộc biến đổi ngoạn mục chưa từng bao giờ xảy ra, nó quá nhanh, quá lẹ tới độ, ngay cả Đức Giê-su – ‘con người Thần Khí’ xem ra cũng phải lấy làm kinh ngạc, bất cập:

Thưa bà, chuyện đó can gì đến bà và tôi? Giờ tôi chưa đến” (2: 4).

Quả thực, chúng ta đang đứng trước một điển hình về biến đổi trong Thần Khí, rất thâm sâu nhưng cũng rất bình dị, vừa tiệm tiến nhưng lại như vừa tức thời! (xin vui lòng đọc lại chương 10: Thần Khí Biến Đổi và Canh Tân).

 

Biến cố thứ hai được Gio-an ghi nhận về ‘Người Nữ của Thần khí’, tuy riêng tư đối với ông, nhưng lại rất thấm thía. Đã từ lâu, có lẽ từ hồi tiệc cưới tại Ca-na vài năm về trước, ông linh cảm thấy nơi người phụ nữ này có một biểu hiện rất kỳ lạ, vừa đơn sơ giản dị, nhưng lại cũng rất mạnh bạo, xông xáo, một nét thần linh nào đó, mà ông chưa bao giờ lý giải được, chưa hề thấy xuất hiện tại bất cứ đâu; ông chưa thể xác định nổi: nó là cái gì. Giờ đây, ngay dưới chân giá thập tự, trên đó người Thầy kính mến của ông đang hấp hối, trong tâm trạng bồi hồi và cô đơn tột cùng, thì ông nhận ra có Thân mẫu của Thầy Giê-su đang đứng cạnh mình. Tự nhiên ông cảm thấy cần phải nép mình bên bà, để được bà nâng đỡ, đồng thời cũng để an ủi bà trong giờ phút vô cùng sầu khổ của một người mẹ nhìn con mình đang hấp hối tức tưởi. Gio-an hình dung tâm hồn của bà chắc hẳn vô cùng cay đắng như bất cứ bà mẹ nào trong hoàn cảnh tương tự. Lúc đó, ông chỉ mong, trong tư cách đại diện cho các Tông Đồ và môn đệ phản bội và nhát đảm, được đứng bên cạnh người mẹ đau khổ, hầu xoa dịu phần nào những cay đắng. Chính lúc ấy, Thầy Giê-su quay vẻ mặt đau đớn nhìn về phía ông và thân mẫu Người, và thều thào lời gửi gấm lạ lùng: Người xin ông nhận bà làm Mẹ của mình đã đành, mà còn đòi Thân Mẫu của Người phải nhận lấy ông làm con:

Khi thấy thân mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Đức Giê-su nói với thân mẫu rằng: ‘thưa bà, đây là con của bà’; rồi Người nói với môn đệ: ‘đây là mẹ của anh” (Ga 19: 26-27)

Về phía mình, ông không thấy có khó khăn gì trong việc nhận bà làm mẹ, vui mừng nữa là đàng khác, và sẵn sàng đưa bà về nhà;

Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình” (19: 27);

nhưng ông phải nín lặng, phải kính trọng gần như run sợ trước quyết định của đối tác. Ông linh cảm rằng: đòi một người mẹ, trong cơn đau khổ tột cùng, đón nhận lấy con nhóm nhát hèn phản bội như bầy đoàn môn đệ các ông, và sau các ông là cả một nhân loại phi nhân và bất công đối với con của mình, thời cả là cả một đòi hỏi quá sức chịu đựng đối với bất kỳ bà mẹ nào. Trước một người mẹ đang đau khổ như thế, nỗi đau dễ dàng khóa chặt bất cứ tâm hồn nào trong phiền muộn, để rồi, muốn tự giam hãm mình vĩnh viễn trong hận thù và oán hờn (hỉ-nô-ái-ố mà), vì thế Gio-an nhận ra ngay: đàng sau cái ‘thinh lặng’ đi theo người môn đệ rước mình về nhà, Thân Mẫu Đức Giê-su đang vận dụng một sức mạnh ẩn tàng ghê gớm lắm, một sức mạnh liên kết và thứ tha vượt lên trên mọi thù hận chưa từng xảy ra. Có lẽ lúc đó Gio-an chưa thể nhận ra, đó là sức mạnh của Thánh Thần, nhưng ông đã ghi lại sự kiện này như một biến cố vĩ đại chỉ có thể xuất hiện trong ‘kỷ nguyên Cứu Chuộc’ mà thôi. Ngày nay thì chúng ta có thể phải biết: chỉ có Thần Khí nơi Thiên Chúa mới có sức liên kết vô địch như thế, mới có đủ khả năng biến một kẻ thù nghịch thành con cái; và hơn nữa buộc một người chấp nhận cừu địch trở thành người nhà thân yêu nhất của mình. Thần Khí liên kết đã thành công làm được tất cả các điều này, trước hết liên kết Thiên Chúa để Người chấp nhận nhân loại tội lỗi trở thành con con cái qua Phép Rửa; rồi lại thành công một lần nữa cách ngoạn mục qua hành vi chấp nhận lời trăn trối dưới chân thập giá của Thân Mẫu Đức Giê-su; rồi thành công trong lời cầu nguyện tha thứ của Phó Tế Tê-pha-nô trong giờ phút tuyệt vọng của hận thù:

Rồi ông quì gối xuống, kêu lớn tiếng: Lạy Chúa, xin đừng chấp họ tội này’. Nói thế rồi, ông an nghỉ” (Cv 7: 60);

và rồi, sẽ còn tiếp tục nhiều cuộc liên kết như thế trong suốt lịch sử của Hội Thánh, trong ‘kỷ nguyện của Thánh Thần’.

 

 Nói cách khác, chúng ta có thể khảng định rằng: Thập Giá chính là nơi hoạt động của Thần Khí đạt tới đỉnh điểm, nơi Thiên Chúa, qua Người Con chí ái, đã dám đổ tới giọt máu cuối cùng để tiếp nhận một nhân loại tội lỗi trở lại làm con cái mình như thế nào…; cũng chính là nơi, trong tác động mãnh liệt của Thần Khí, Thân Mẫu của Người đã rộng mở con tim từ mẫu cho loài người bội phản. Quả thật Mẹ Ma-ri-a phải là ‘Người Nữ của Thần Khí’ chưa từng có, tuyệt hảo hơn hết mọi người qua mọi thế hệ!

           

Khi lần hạt, giáo dân Việt Nam có thói quen, qua mỗi chục hạt họ chiêm ngắm nơi Mẹ một nhân đức nào đó, hoặc cầu xin một ơn liên quan... như chục hạt thứ nhất Mùa Vui, qua sự kiện Truyền Tin, họ cầu xin cho được lòng khiêm nhường. Thói quen này tự nó cũng tốt thôi, tuy nhiên nó có thể tạo cho giáo dân một ấn tượng nguy hiểm là, coi ‘ta hãy xin cho được đầy ơn Đức Chúa Thánh Thần’ (chục hạt thứ bà Mùa Mừng) cũng tương đương với xin được khiêm nhường, yêu người, khó khăn… chết lành trong tay Đức Mẹ. Không, tôi thiết tưởng nếu được hỏi trực tiếp Đức Mẹ, tôi sẽ hỏi thẳng Mẹ rằng: Mẹ muốn tôi học đòi nơi Mẹ một nhân đức nào đó…, hay cùng Mẹ khám phá ra sự hiện diện và sức sống của Chúa Thánh Thần trong đời mình? Và tôi dám cam đoan: tôi đã biết trước câu trả lời của Mẹ sẽ là như thế nào. Mong rằng: kể từ nay, tôi sẽ cùng Mẹ triển khai đời sống Thần Khí qua chính việc lần hạt Mân Côi hàng ngày, để nhờ đó tôi sẽ cùng Mẹ biến đổi và canh tân mọi tương quan và các biến cố đang xảy ra quanh mình. Cùng với các anh em Sa-lê-diêng Don Bosco, tôi muốn chiêm ngắm Mẹ như thế mỗi khi lần hạt Mân Côi. 

           

“ Đức Ma-ri-a, Mẹ Thiên Chúa chiếm một vị trí độc đáo trong lịch sử cứu độ; Mẹ là gương mẫu cầu nguyện và đức ái mục tử, thày dạy sự khôn ngoan, và người hướng dẫn gia đình chúng ta…

Chúng ta chiêm ngắm và bắt chước lòng tin của Mẹ, mối ân cần lo lắng cho những người nghèo khổ, lòng trung kiên trong giờ phút Thập Giá và niềm vui trước những việc kỳ diệu Cha đã thực hiện. Đức Ma-ri-a Vô Nhiễm và Phù Hộ giáo dục chúng ta biết tận hiến trọn vẹn cho Chúa, và thông ban cho ta lòng can đảm phục vụ các anh em…

Chúng ta nuôi dưỡng một lòng sùng kính con thảo và mãnh liệt đối với Mẹ. Chúng ta lần hạt mỗi ngày, và cử hành các lễ của Mẹ để thúc đẩy mình bắt chước Mẹ cách xác tín và cá nhân hơn” (HL 92).

 

Đời sống nội tâm hay đời sống trong Thánh Linh của bất kỳ Ki-tô hữu nào cũng không thể thiếu vắng hình bóng của Người Nữ Thần Khí, nhất là khi người đó phải chu toàn nhiệm vụ cao cả là cộng tác với Chúa Thánh Thần uốn nắn các cõi lòng trong công tác giáo dục đức tin, như Hiến Luật dòng Don Bosco đã từng khảng định:

“Đức Trinh Nữ Ma-ri-a đã chỉ cho Don Bosco cánh đồng hoạt động của người giữa các thanh thiếu niên, và liên lỉ hướng dẫn, nâng đỡ người, đặc biệt trong việc thiết lập Tu Hội chúng ta.

Chúng ta tin rằng, Đức Ma-ri-a hiện diện giữa chúng ta và tiếp tục sứ mệnh của Ngài là Mẹ Hội Thánh và Đấng Phù Hộ Các Giáo Hữu; chúng ta phó thác mình cho Đức Mẹ, người tớ nữ khiêm cung, nơi Ngài Chúa đã làm những điều cao cả. Để ta trở thành nhân chứng tình yêu vô tận của Con Mẹ giữa thanh thiếu niên” (HL 8).   

           

 

 

 

 

 

 

Cập nhật lần cuối ngày Thứ hai, 22 Tháng 5 2017 11:21
Đánh giá bài suy niệm
(1 Đánh giá)
Số Lần đọc 1263 lần

SUY NIỆM NGÀY LỄ

:

Giới Thiệu

Lời Chúa là lương thực nuôi dưỡng tâm hồn, là ánh sáng soi đường dẫn lối cho cuộc sống. Việc lắng nghe và suy niệm Lời Chúa sẽ giúp mỗi người nhận biết lối đường để đi, phương cách để hành động, đồng thời bổ dưỡng tâm hồn con người trên đường về với Người.

Cùng với các bạn, website Lời Chúa cũng mong được góp những suy tư nhỏ bé của mình qua những bài suy niệm, với ước mong Lời Chúa sẽ giúp chúng ta được biến đổi mỗi ngày nên giống Người hơn.


Default Theme
Layout Direction
Body
Background Color [r]
Text color [r]
Top
Top Background Image
Background Color [r]
Text color [r]
Bottom
Bottom Background Image
Background Color [r]
Text color [r]