TRUNG THÀNH ĐỂ CUỘC SỐNG ĐƯỢC NÊN TRỌN

Đời sống thánh hiến: Lời ngôn sứ theo bình diện nhân học trong hậu thời mới

Bề Trên Cả dòng Salêdiêng Don Bosco: Pascual Chavez

 

DẪN NHẬP

Suy tư này nhắm kích thích cùng suy tư, hơn là muốn trình bày một cái gì "mới". Bởi thế, tôi sẽ cố gắng trung thành bao có thể với tựa đề và ý nghĩa của nó: cống hiến một khung nhân học trong đó chúng ta có thể định vị những đề xướng của mình hầu giúp kiện cường sự trung thành với đời thánh hiến của những ai được kêu gọi tới đó: với sự chú ý đặc biệt đến thế hệ trẻ hơn.

Hẳn nhiên rằng vấn đề nền tảng đó chạm tới cốt lõi và chính sự phát triển của đức tin, bắt đầu với kinh nghiệm cá nhân và cộng đoàn về Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô. Đang khi giả định như thế, chúng ta phải làm một "sự giản lược theo phương pháp luận" từ một góc cạnh biệt loại: có lẽ thậm chí chúng ta bàn cặn kẽ bao có thể đề tài này mà ở đó ta thấy Bản tính và Ân sủng tương tác nhau, dù không chút lẫn lộn! Thực thế, chủ đề sự trung thành (không chỉ trong ý nghĩa ơn gọi của nó) chạm đến những khía cạnh cốt yếu của nhân vị đến nỗi chúng ta nhất thiết phải bỏ đi một cố gắng để có khóe nhìn đầy đủ, nhưng thay vào đó phải bằng lòng để định vị nó trong khung nhân học này.

Đàng khác, vấn đề này không độc quyền cho đời tu hay đời thánh hiến: nghĩ đến những trường hợp bi thương và rất thường là thảm thương, của quá nhiều hôn nhân và gia đình trong thế giới, ngay cả những người Công giáo là đủ! Trong lãnh vực đời tu, nó tác động đến những hiệp hội mới được thành lập, đến những tu hội xa xưa hơn, và ngay cả những dòng đan sĩ, những hình thức sống ẩn dật. Và còn hơn nữa: mặc dù chúng ta quan tâm đến thế hệ trẻ hơn, thì sự qui chiếu ấy không chỉ đến họ mà thôi: người ta có thể rút lui khỏi tiếng gọi triệt để của Đức Giêsu không kết thúc cho đến chết, điều đó là có thể. Như Dietrich Bonhoeffer bàn đến cách tốt đẹp và chính xác, những lời đầu tiên mà Chúa nói với Phêrô cũng là những lời cuối cùng: "Hãy theo Ta."

Trước khi bàn đến nội dung của suy tư này, nhìn xem nó từ quan điểm giá trị học quả là tốt đẹp: Có phải chúng ta đang bàn đến một tình trạng nan giải, thậm chí một tình trạng nguy hiểm mà chúng ta phải bảo vệ chính mình, hay bàn đến một kairos; nó trở thành một thách đố quyến rũ cho sự trung thành sáng tạo của chúng ta đối với TC, GH và nhân loại, khác hơn là [một điều] không thể né tránh? Tôi tin chúng ta thâm tín rằng, bất kể sự nghiêm trọng mà tình trạng đó đòi hỏi, nó là chọn lựa thứ hai mà chúng ta đang bàn đến. Nó là hệ quả của việc tin rằng Thánh Thần tiếp tục hiện diện và tác động trong GH chúng ta và trong thế giới; nhưng cũng bởi vì trong điều này, như trong nhiều khía cạnh khác, chúng ta tìm thấy "luật của quả lắc": thời kỳ chúng ta nhấn mạnh một cách biện chứng những yếu tố mà, một cách cắt nghĩa được nhưng không đúng, bị bỏ quên trong những kỷ nguyên khác. Với sự trợ giúp của cùng một Thần khí, chúng ta có bổn phận tìm được sự quân bình chính đáng.

Nói theo những hạn từ biểu tượng: văn hóa ngày nay, nhất là văn hóa giới trẻ, đã đảo lộn cái kính vạn hoa của nhân học: nó chiêm ngắm một bức tranh hoàn toàn mới, nhưng [cũng lại là] một bức tranh trong đó chúng ta có thể nhận biết cùng những yếu tố về cơ cấu như trong những nền văn hóa trước kia, [song lại] phản chiếu ánh sáng theo một cách thức rất khác biệt, và bởi thế, cũng dọi chiếu một hình ảnh khác biệt. Vậy chúng ta tin rằng chúng ta đang bàn đến một trong những nhân đức mà đã thành "điên dại" (crazy), theo diễn đạt rất đúng của G. K. Chesterton: Chúng ta hãy hy vọng căn bệnh đó thì ngoài tầm phục hồi.

Vẫn theo những hạn từ mô thể, tôi nghĩ chọn một phương hướng, giữa những phương hướng khác, quả thật tốt đẹp hơn,  đang khi hy vọng nó có thể thích hợp đủ để cống hiến cho chúng ta những lối đường thích đáng để suy tư. Cái chọn lựa kia sẽ phải báo hiệu nhiều yếu tố, nhưng nhất thiết hời hợt và không dò xét những chiều sâu của chúng. Nói cách khác, đang khi gợi nhắc ngạn ngữ: "kẻ muốn quá nhiều lại chẳng bắt được gì" (kẻ bắt cá hai tay chẳng bắt được gì), tôi lấy nhãn quan đối nghịch: lấy được ít, có lợi cho chiều sâu lớn hơn nhiều.

2. SỬ TÍNH, CHÂN TRỜI VÀ CON ĐƯỜNG TỚI SỰ HOÀN THÀNH CON NGƯỜI

Không chút nghi ngờ, giữa nhiều yếu tố khác vốn nắn hình văn hóa ngày nay, "sự khám phá" sử tính của con người là một trong những yếu tố thích đáng nhất. Điều này không nói về một cái gì "mới" mà trước kia không có, hay không được mọi người tri nhận. Đúng hơn đó là nói về những yếu tố cộng tác của cuộc sống nhân loại; bởi vì chúng hiện diện khắp nơi và trong mọi thời, nên một cách nghịch lý, chúng có nguy cơ trở thành tránh né. Lấy vài trang kinh thánh hầu thấy rằng ta tuyệt đối không thể hiểu Lời Chúa mà không giả định về lịch sử nhân loại là đủ rồi. Không có điều này, mạc khải TC, tự do nhân linh, tội lỗi và hoán cải sẽ không hiện hữu.

"Sự hiện diện mặc nhiên" này của lịch sử nhân loại trong Mạc khải nhấn mạnh, giữa những yếu tố khác, giá trị của "ngày hôm nay" đối diện với quá khứ, và ngay cả tương lai: Bàn đến nó dưới diện một hình ảnh, điều đáng quan tâm không phải sức nặng của những hành vi tốt hay xấu được xem như cân bằng, nhưng là hiện trạng. Giữa những bản văn khác, chúng ta gợi nhắc bản văn nổi tiếng của Edekiel: "Nhưng nếu kẻ gian ác từ bỏ mọi tội lỗi mình đã phạm mà tuân giữ mọi quy tắc của Ta, cùng thi hành điều chính trực công minh, thì chắc chắn nó sẽ sống, nó không phải chết. 22 Mọi tội phản nghịch nó phạm, người ta sẽ không còn nhớ đến; nó sẽ được sống vì đã thi hành lẽ công minh." (Ed 18:21-22); Tv 95 nói cùng một điều, như được đề nghị ngay lúc đầu của cầu nguyện phụng vụ ban sáng: "Nếu hôm nay nghe tiếng Người, các ngươi chớ cứng lòng" (c. 7-8); hay, một cách thảm kịch hơn, những lời cảm động của Đức Giêsu trên thập giá cho người trộm cướp sám hối: "Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Ðàng" (Lc 23:43). Không nghi ngờ chi, điều này khiến chúng ta phải lượng gia cuộc sống nhân sinh theo phẩm tính hơn là "lượng tính", mà không đồng nhất nó, một cách tất yếu với mối liên hệ giữa những thái độ và hành vi trong bình diện luân lý. Vì vậy, nói về "khám phá", chính chúng ta hãy qui chiếu cách chính xác hơn tới chủ đề minh nhiên của thế kỷ 20, được nối buộc với triết học, (mặc dù ta đã tìm thấy cội rễ của nó ít nhất từ thế kỷ 19 trở đi), và, cách cụ thể hơn, tới chủ thuyết hiện sinh, vốn cấu thành một trong những đóng góp giá trị nhất và liên tục của triết học và văn hóa hiện hành.

Như tựa đề của phần này chỉ tới "chân trời và lộ trình", chúng ta nói rằng con người không chỉ sống trong lịch sử (trong thế giới và toàn vũ trụ, mà có thể được gọi là "lịch sử", nhờ sự can thiệp của con người): điều này thật hiển nhiên; nhưng nội khởi hơn, nó dường như xác quyết rằng con người là một "hữu thể lịch sử" bởi vì trong lịch sử, họ trở thành hay phá hủy chính mình: ở bình diện cá nhân cũng như cộng thể và ngay cả trên phạm vi toàn cầu: chính yếu trong một kỷ nguyên mà ở đó những người (yếu tố) cộng tác trên bình diện địa dư nhường sự thích đáng của chúng ngày một hơn cho những yếu tố cộng tác trên bình diện lịch sử, trong "ngôi làng toàn cầu" này mà hành tinh của chúng ta đang trở thành.

Chúng ta đang bàn đến không chỉ một cái gì có tầm quan trọng về chất lượng, một "cái gì hơn"; nhưng cách riêng đến một sự thích đáng về phẩm chất, căn cứ rằng (giả dụ rằng) lịch sử cấu thành một khung não trạng, thiết lập chính mình trong một tâm điểm của một Gestalt vốn bao gồm tất cả những yếu tố cơ cấu của con người trong một tổng hợp mới (quay về lại hình ảnh của kính vạn hoa).

Biến lịch sử thành một đề tài, điều này mang đến những hệ quả cho tất cả những lãnh vực của cuộc sống con người. Gợi nhắc cuộc cách mạng nó gây ra trong việc tư duy về giáo dục và đào luyện  được hiểu như "đào luyện liên tục" là đủ rồi; tiên vàn, giáo dục và đào luyện không được qui chiếu tới việc cập nhật biệt loại hay khả dĩ, như ta đã thường nghĩ thế, nhưng tới niềm tin rằng chúng ta ở trong đào luyện suốt đời, và vì thế, chúng ta không thể thực sự nghĩ về bất kỳ ai nhưđã "được đào luyện" xong xuôi rồi. (Tương tự, trong lãnh vực luân lý, chúng ta không nghĩ về mộthomo viator bị hư mất cách dứt khoát, hay vì đó "được vững chắc trong ân sủng").

Điều này mang theo với nó một thay đổi triệt để trong cách thực thi "đào luyện ban đầu" và ngay cả giai đoạn theo sau vốn được gọi một cách không thích đáng là "đào luyện liên tục", như thể nó là một cái gì đến sau đào luyện ban đầu. Đang khi cũng ghi nhớ rằng điều quan trọng nhất không phải là thay đổi những ngôn từ nhưng canh tân nội dung của chúng, chúng ta ít nhất phải nhắc nhớ vấn đề đó, không phải là chuyện đơn giản như thế, là cách thức thực thi "đào luyện ban đầu" này hầu nó không phải là một cái gì tách khỏi cái đến sau, và ngay cả còn ít hơn một loại trừ tà (antidote) của nó, nhưng nó cũng không được giải quyết bằng cách là một "giai đoạn đầu tiên" đơn giản của một tiến trình. Tận cơ bản, chúng ta đang cố gắng minh định nói "đào luyện liên tục (theo mức độ nó là thế) sinh động và hướng dẫn đào luyện ban đầu" có nghĩa là gì.

Từ viễn cảnh này về lịch sử, chúng ta hoàn toàn hòa nhập với "những từ ngữ then chốt" đó mà hiện hành "có một quyền công dân" ngay cả trong đời sống thánh hiến: sự tìm kiếm sự hiện thực cá nhân. Ở đây chúng ta đang bàn đến một khía cạnh không thể tránh né, nhưng cả đến một nguồn của hiểu lầm và thậm chí, sự chưng hửng (frustration) nữa.

Về điều này, tôi thích gợi nhắc một bản văn minh tỏ của cha Friedrich Wulf, SJ, nói về hiện tượng luận theo thần học đời tu:

"Tận nền tảng của đời tu vốn tìm cách có được một nền tảng thần học và thiêng liêng, chúng ta tìm thấy một hữu thể được tác động bởi Mầu Nhiệm TC về thế giới và về đời sống... Ta ghi nhận ảnh hưởng này theo ba hình thức: như một hữu thể được tác động bởi TC, bởi Đức Giêsu hay bởi một tình trạng thảm thương của thế giới. Ở đây chúng ta thấy những loại lý tưởng vốn chỉ nhấn mạnh đến những trọng tâm khác nhau, nhưng không bao giờ có một hình thức thuần khiết. Chúng được liên kết chặt chẽ bởi cùng một nội dung, nghĩa là, nội dung của mạc khải Kitô hữu. Một hữu thể được TC tác động mà không bao gồm sự trung gian quyết định và vai trò cứu độ của Đức Giêsu như một trách nhiệm đối với sự cứu độ thế giới và người khác, sẽ là Kitô hữu một cách tối thiểu như một hữu thể quan tâm đến tình trạng thảm thương của thế giới mà người ấy không có TC của ơn cứu độ chúng ta, được mạc khải trong Đức Giêsu như trung tâm. Bất cứ ai chọn như mục tiêu của mình trong đời sống, tới mức mà người ta có thể chọn cho chính mình, một người thần bí và sự chiêm niệm vốn loại bỏ thế giới, tận cốt yếu sẽ có tội làm mờ sứ điệp cứu độ Kitô hữu, như kẻ mà nghĩ về ơn gọi tông đồ của mình chỉ như một sự phục vụ theo chức năng. Bất chấp điều này, cần có những ưu tiên, những nhấn mạnh, bởi vì nếu không mọi sự sẽ tiếp tục là lý thuyết và không thích đáng với những nét riêng biệt của từng cá nhân, với phẩm chất biệt loại và ơn gọi cá nhân của họ."

Điều này hoàn toàn là có giá trị và là một sự minh định; nhưng liệu không đúng là, cùng với ba động cơ cốt yếu và bất khả chia tách này của đời tu và thánh hiến - Sự tuyệt đối của TC; đi theo/bắt chước Đức Giêsu Kitô; sự cứu độ thế giới - người ta nhấn mạnh mối quan tâm tới sự hoàn thành bản thân, ít nhất một cách mặc nhiên sao? Ta cũng có thể dễ dàng xao nhãng, và thậm chí loại bỏ khía cạnh này, như một diễn đạt của chủ nghĩa cá nhân ích kỷ và một "chứng rối loạn tâm lý" bệnh tật của cá nhân chủ nghĩa; nếu chúng ta đọc Tin mừng cẩn thận, chúng ta không bao giờ tìm thấy về phía Đức Giêsu một sự cự tuyệt điều này: điều Chúa làm là chỉ ra lối đường đúng đắncho sự hoàn thành này. Chúng ta quá thường xuyên quên rằng những mối phúc không phải là những chuẩn mực tôn giáo hay luân lý nhưng là những lời hứa về hạnh phúc, liệu điều đó không có ý nghĩa sao?

Chúng ta cần phân định và làm sáng tỏ hơn là chống lại hay lên án: nó chỉ giá trị và hoàn thành, trong đời thánh hiến, khi chúng ta nói về sự hoàn thành trong Đức Kitô, được nối kết bất khả phân với ba khía cạnh đó. Hiển nhiên, ở đây có một nơi chốn để hiểu đúng và đem ra thực hành khái niệm về sự thích hợp ơn gọi vốn cho phép chúng ta hòa nhập cả hai khía cạnh, khách quan và chủ quan.

Một trong những khía cạnh hấp dẫn nhất khi chiêm ngắm các vị thánh lớn là nghĩ về họ như là những người hoàn thành sung mãn và hạnh phúc. Như Vita Consecrata nói, nếu chúng ta được gọi là một "liệu pháp thiêng liêng" cho thế giới ngày nay, và chúng ta muốn hiểu sâu xa hơn "ý nghĩa nhân học sâu xa" của những lời khuyên phúc âm, chúng ta không thể làm ngơ chiều kích này: sống thanh khiết, nghèo khó và vâng phục cách tận căn và đầy đủ thì không đủ: Ngay cả trên bình diện nhân loại, chúng ta cần phải có những thái độ tỏa sáng và hấp dẫn, sự diễn đạt về  sự trưởng thành và sung mãn (x. VC 87-91).

3. SỰ TỰ DO, GIÁ TRỊ TỐI CAO CỦA SỰ HOÀN THÀNH NHÂN BẢN

Trong khung não trạng của lịch sử, tự do mặc lấy một tầm quan trọng dứt khoát, đặc biệt bởi vì con người không được hiểu là một cái gì "được lên chương trình trước", như một máy vi tính, thậm chí một máy tính tinh vi nhất, nhưng như một ngôi vị, một ai đó vốn đảm nhận lấy chính cuộc sống của mình trong đôi tay mình, có thể sắp xếp nó, có thể quyết định điều họ muốn liên quan đến đời sống; thực sự: người đó muốn là gì, nhờ vào tự do.

Theo nghĩa này, chúng ta có thể gợi nhắc những lời cố tình quá khích và khiêu khích của J. P. Sartre: "Hiện hữu đi trước hữu thể." Không ai, không hữu thể nào, nhân loại hay thần linh, có thể quyết định cho tôi tôi muốn là gì. Đằng sau thái độ này chúng ta có thể tìm thấy diễn đạt hơn kém vô thân của Promethe, nhưng cũng khám phá một thách đố giúp chúng ta hiểu rằng TC không thể mong muốn từ chúng ta, con cái của Ngài, một tình yêu và một sự cam kết khác nào hơn là hoàn toàn tự do.

Phân tích sự tự do cách sâu xa hơn như một chiều kích cốt yếu của con người quả thật thích hợp. Hiển nhiên, chúng ta không thể chấp nhận một sự cao cả của tự do vốn đặt mình trên mọi thời khắc hay giá trị: nhưng chúng ta cũng không thể bác bỏ nó hay giảng nghịch lại nó. Chúng ta thường phàn nàn về một sự tự do vốn thoái hóa thành sự phóng túng, v.v; nhưng đâu là hình dáng và năng động lực của thái độ này hầu có thể hiểu nó, đối diện nó và đáp lại nó?

Theo một cách thức tương tự với lịch sử, sự lượng giá quá cao này về tự do không chỉ thuộc chất lượng ("thứ nhất"), mà cả phẩm chất, một hạt nhân của một khung não trạng mà tất cả các giá trị khác xoay quanh nó. Khi người ta không xem xét điều này, nó làm ta không thể hiểu một vài thái độ mà dường như mâu thuẫn.

Tôi cống hiến một thí dụ, không chỉ do ngẫu nhiên. Đối diện với chủ đề tồi tệ về lạm dụng và gạ gẫm tình dục, chắc chắn không bao giờ có thể biện chính, và sự thao túng (manipulation) không kém tồi tệ của cùng điều đó, chúng ta ghi nhận một "tiêu chuẩn lưỡng diện" thường có tính chất giả hình trong xã hội và giữa truyền thông [xã hội]. Làm thế nào có thể rằng xã hội này, vốn tìm cách trừng phạt những thất bại nhỏ nhất về mặt này, lại đồng thời có thể khoan thứ sự trầm trọng hơn của nó dưới hình thức của một thứ khiêu dâm vô giới hạn? Được nhìn từ khung não trạng của tính dục, thái độ lừa lọc này thì không thể hiểu được; nhưng từ khung não trạng khác, khung não trạng của tự do, nó không chỉ  có thể hiểu được nhưng lại hợp lý: tận nền tảng nó nói rằng bởi vì chúng ta đang bàn đến những người lớn (= 18 tuổi trở lên), họ có thể làm điều họ thích, với sự tự do tuyệt đối, bao lâu họ không làm hại phần tử thứ ba (mới đây "trong sự tự do của họ").

Hiển nhiên, tôi không cố gắng biện chính thái độ này đâu; trái lại, theo tôi phán đoán, ở đây chúng ta nhìn thấy cốt lõi của vấn đề thực sự. Như chỉ ra ở trên, chúng ta bàn đến không chỉ một sự lượng giá theo lượng tính (=quá đáng) của tự do, nhưng theo phẩm chất, nó được nhìn như một khung não trạng về sự hoàn thành chính mình của con người. Đối diện với điều này, chúng ta cần phải nói: tự do không cấu thành một khung não trạng, nó không phải là giá trị cơ bản vốn cho phép hoàn thành con người. Trái lại, nó là đặc tính mà phải đi theo mọi giá trị nhân linh hầu nó có thể là thực sự nhân bản.

Nói theo kiểu khác: tự do, như một tính từ, phải đi liền với mọi danh từ: bằng không, danh từ mất đặc tính của mình như giá trị. Thay vào đó, khi tính từ cố gắng để trở thành danh từ, nó tuyệt đối hóa tự do, phá hủy chính mình, và phá hủy hữu thể được can dự. (Gợi nhắc ở đây nguyên ngữ học của từ ngữ "tuyệt đối" quả là tốt: ab-solutus nhắc nhớ chúng ta về  việc "không-gắn bó" với bất kỳ cái gì khác).

Dựa vào việc tuyệt đối hóa có tính mô thức của tự do này, chúng ta thậm chí có thể trích dẫn một tác giả mà chắc chắn không thể bị nghi ngờ về "khoa tu đức", Federico Nietzsche:

"Có phải bạn gọi chính mình là tự do phải không? Tôi thích nghe cái tư duy thống trị của bạn, chứ không phải rằng bạn đã trốn thoát khỏi một gánh nặng nào đó.

Có phải bạn là một kẻ mà đối với người đó, trốn thoát khỏi một gánh nặng quả thật đúng luật không? Hơn là kẻ đã ném bỏ đi giá trị tối hậu của họ bằng cách ném bỏ đi hình thức nô lệ tối hậu của họ.

Tự do khỏi cái gì? Zarathustra không quan tâm đến điều này! Mắt bạn phải nói cho tôi rõ ràng: tự do để làm gì? (Tác giả nhấn mạnh).

Tôi muốn đi sâu hơn vào ý tưởng này bằng cách quay sang tư duy của một người, trong văn chương phương Tây, được coi là một người hiểu biết vĩ đại nhất về lòng người: F. M. Dostoievskij. Trích dẫn ông như một văn sĩ, mà, hơn bất kỳ ai khác, bảo vệ sự tự do nhân linh là chuyện cũ rích; dù vậy, ông biết cách nào để trình bày cách tốt đẹp những nguy cơ của chính tự do này khi nó cố gắng để thiết lập chính mình như một giá trị tuyệt đối trong cuộc sống con người.

Trong lãnh vực gây ấn tượng của những nhân vật của Dostoievskij, từ những góc độ khác nhau, chúng ta tìm thấy ba người nhập thể cái cám dỗ về sự tự do tuyệt đối, vốn liều hủy hoại chính mình, và trong hai trường hợp thành công (qua tự tử). Từ một viễn cảnh đạo đức, chúng ta tìm thấy Raskolnikov, trong Tội ác và Trừng phạt; ông bị ám ảnh bởi câu hỏi về những khả thể tính nơi "những người thượng cấp", và câu hỏi xem họ có được phép làm bất kỳ cái gì không (và, một cách cụ thể, nếu ông ta là một trong những người lạ thường); trong tiểu thuyết The Demons (Lũ Người Quỉ Ám), Kirillov nhập thể sự triệt để hóa của tự do trên bình diện thần học, khi cùng lúc yêu cầu hất cẳng TC, được hiểu như Chúa Tể và Chủ Ông chuyên chế và tuyệt đối của mọi sự tự do; và trong cùng tiểu thuyết đó, cách riêng Stavroguin, từ viễn cảnh hữu thể học: một nhân vật quyến rũ tất cả những người chung quanh, nhưng chúng ta đang bàn đến một bức tượng tốt đẹp, nhưng, không may, trong thực tế lại trống rỗng bên trong.

Một trong những học giả tuyệt nhất về Dostoievskij, Louis Pareyson, bình luận thế này:

Sự tự do của ông hoàn toàn phi lý; nó không có chuẩn mực trước mắt để vi phạm; thậm chí ông chẳng có đến một mục đích để cống hiến, và như vậy xoay quanh sự rỗng tuếch, đang khi phân rẽ trong sự hờ hững, trong chán chường, trong lười biếng, trong một loại hữu thể vô dụng và sự ì ạch hủy hoại. Tiềm lực của ông thì lớn lao và đáng sợ, mà sự hủy hoại vốn đến từ đó đã cho thấy [điều đó]: những người dưới ảnh hưởng của ông mà đến đều đã lạc đường; và ông, "một nhân vật đen tối và quỉ ma, ấn định vấn đề tối cao: hiện hữu hay không hiện hữu? sống hay hủy hoại chính mình? Và ông hủy hoại chính mình: tự tử đặt dấu của sự hư vô trên một đời sống chỉ có hư vô như giáo huấn của nó.

Không nghi ngờ, đây là những trường hợp cực độ; nhưng cách riêng, vì lý do này, chúng phác họa hoàn hảo cái nguy hiểm của một tự do mà không khiêm tốn chấp nhận rằng nó là một tính từ vốn phải đi liền theo cách không thể phân chia với những giá trị nó hoàn thành nhân vị, một cách nhân bản và, trong trường hợp chúng ta, cũng theo diện Kitô hữu và tu sĩ: tiên vàn và cách riêng, tình yêu, bởi vì không có tình yêu chân chính mà không có tự do. Tự do là terminus a quo không thể chối cãi của sự hoàn thành con người, dưới đó chúng ta mất nhân phẩm, và chúng ta biến đổi chính mình thành đám đông mà đi theo Vị Phán Quan vĩ đại (inquisitor) (và TC giải phóng chúng ta khỏi là "những vị phán quan vĩ đại" mà hành động nghịch lại sự tự do của anh chị em mình!): nhưng nó không chút cấu thành cái terminus ad quem của sự hoàn thành này.

4. "... NÓ LÀ MỘT KINH NGHIỆM..."

Trong chòm sao của các giá trị (lịch sử - tự do - sự hoàn thành) kinh nghiệm có một chỗ ưu việt. Một từ ngữ "ma thuật" vốn có một sự liên hệ mật thiết với từng từ ngữ trên; nó làm lợi cho sự hoàn thành của con người, trong viễn cảnh của sử tính, như một thời khắc ưu việt cho việc thực thi tự do.

Bỏ qua sự phân tích, hẳn nhiên rất phong phú, về nguyên ngữ học của từ ngữ này từ những lãnh vực ngôn ngữ khác nhau, cách riêng Latinh (ex-perior = expertus) và tiếng Đức (Erfahrung = er-fahren), chúng ta đi ngay tới ý nghĩa tiêu biểu của nó. Ở đây, nó giúp giải thích rằng chúng ta không bàn đến một thực tại "mới": trong những văn hóa khác nhau có những tục ngữ diễn đạt cho thấy sự khó khăn của việc "học từ đầu óc của một người khác" và làm thành một kho tàng từ đó. Đối với kinh nghiệm mọi sự trong ngôi thứ nhất luôn được xem như một cái gì, đang khi không phải luôn là đáng ao ước, nhưng dù sao chăng nữa là không thể né tránh.

Hơn nữa: Trong tất cả những nền văn hóa truyền thống trên thực hành đều có những "nghi thức khai tâm (bắt đầu)" vốn làm cho bước quá độ từ một giai đoạn này sang một giai đoạn khác của đời sống thành có thể, vì những kinh nghiệm can dự tới nhân vị đầy đủ, chứ không chỉ đến khả năng tri thức hay tình cảm, nhưng cả hai chiều kích cùng lúc, và cả thực tại thân xác của họ thường trong những cách khó nhọc. Dù vậy, chúng ta cần phải thêm rằng mặc dù những "nghi thức khai tâm" này tồn tại trong những văn hóa ngày nay, thường dưới hình thức được ngụy trang, có một sự khác biệt cốt yếu: ngày nay qua những kinh nghiệm độc đáo này, chúng ta không tìm cách để được hòa hợp với một quá khứ huyền thoại, nhưng để rộng mở chính mình cho một tương lai hứa hẹn, đang khi chống lại - đôi khi minh nhiên - quá khứ của chúng.

Trong hướng chiều có tính kinh nghiệm này chúng ta có thể nhắc đến chiều kích nhiệm huấn(mystagogic) của huấn giáo Kitô hữu trong những thế kỷ đầu tiên; nó tìm cách chuẩn bị các dự tòng không chỉ qua việc thủ đắc kiến thức, nhưng dẫn họ sống kinh nghiệm gặp gỡ với Chúa Giêsu và, qua Người, trong Chúa Thánh Thần, với Chúa Cha. Ngày nay cũng thế, tác vụ mục vụ, tác vụ giới trẻ cách riêng, cố gắng phát triển chiều kích cốt yếu này. Không chỉ thế mà thôi: vì lẽ này, kinh nghiệm nhiệm mầu này được đặc trưng cách riêng như cách biệt loại rút từ cuộc gặp gỡ với TC duy nhất và ba ngôi (nó không lệ thuộc vào khả năng nhân loại nhưng là một Tặng Phẩm thần linh.)

Tất cả điều này cho chúng ta thấy rằng chúng ta không đối diện với một khó khăn để vượt thắng nhưng một thực tại rất phong phú để biện phân và đảm trách: hẳn nhiên, vượt thắng những nguy hiểm nó hàm ẩn.

a. Giữa những nguy hiểm này chúng ta tìm thấy, trước hết, bản tính mô thể của nó (tương tự với điều chúng ta đang nói về tự do). Nó tạo ấn tượng rằng mỗi kinh nghiệm hiện hữu vì chính sự kiện là như thế: biết bao lần chúng ta đã không nghe lời giải thích này: "... nó là một kinh nghiệm mà", như một sự biện chính cho một thái độ bất khả chấp nhận sao? Có lẽ đánh bóng một cách bất kính lá thư thứ nhất của thánh Phêrô: kinh nghiệm thì tương tự với tình yêu huynh đệ, bởi vì nó là một chiếc áo (vỏ bọc ngoài) vốn "che phủ nhiều tội lỗi" (x. 1 Pr 4:8). Nói từ kinh nghiệm trong đào luyện, tôi ghi nhận rằng, cùng với sự kiêu ngạo, nó là một trong những trở ngại (impediment) mạnh mẽ nhất mang tính cấu trúc đối với sự sám hối và hoán cải, vì cái thay thế sẽ phải là không có kinh nghiệm, và một cách mô thức và tiên thiên, điều này được xem như một giới hạn và một sự bần cùng hóa. Nó có thể tới độ nói rằng - tạ ơn Chúa không ở trong đời thánh hiến! - bất kỳ loại dục tính, ngay cả cái lầm lạc nhất, thì thích hợp để khiêng khem nó hoàn toàn! Dường như đối với tôi nó là sự lượng giá cực đoan của chủ nghĩa hình thức về kinh nghiệm đúng thực.

b. Cách tư duy này thường hiểu lầm ý nghĩa của kinh nghiệm. Sự kiện của việc chuyển từ số ít là "chính" kinh nghiệm, như một diễn đạt của sự khôn ngoan nơi người biết cách học từ cuộc sống khởi đầu với kinh nghiệm hằng ngày và thói quen, tới số nhiều là những kinh nghiệm như những thời khắc lạ thường và luật trừ, đang khi chuyển sự nhấn mạnh từ thái độ tới hành vi. Có một bài ca tiếng Mêhicô mà nói điều này cách tuyệt vời: "Nada te han ensenado los anos, siempre caes en los mismos errores" ("những năm tháng chẳng dạy bạn gì cả; bạn luôn mắc cùng những sai lầm như nhau.") Điều đó là như nhau khi nói: "bạn có nhiều kinh nghiệm, nhưng bạn chẳng có kinh nghiệm gì hết" Bạn không học được bất kỳ cái gì từ cuộc sống, bạn không trở thành một "chuyên viên" trong đời sống.

c. Từ sự "trân trọng quá đáng" một chiều này về chính kinh nghiệm của ta đưa đến hai nguy hiểm lớn cho đời thánh hiến hôm nay: chủ nghĩa cá nhân, bởi vì không ai khác có thể chiếm chỗ của tôi trong việc học từ cuộc sống: "nó là kinh nghiệm của tôi"; và cùng với điều này, chủ nghĩa tương đối: "từng người có tư duy của riêng mình, theo kinh nghiệm của chính mình thôi: vượt quá điều này, mọi sự khác là một sự trừu xuất. Không có những chuẩn mực khách quan nào mà có thể ưu thắng trên điều "cuộc đời đã dạy tôi."

Tôi muốn lấy điểm này đi xa hơn một chút. Sự linh hướng của tu sĩ trong đào luyện ban đầu khiến tôi tin rằng những vấn đề, nhất là trong lãnh vực tình cảm, phần lớn đến từ cách thức trong đó chúng được bàn (hay thậm chí không bàn đến chúng); khác với lối tiếp cận 'của con đà điểu' vốn nghĩ rằng không ai biết cả, vì cái đầu của nó được vùi trong cát, (thực sự là mọi người đều đã được thông tin rõ ràng, nói về nó với mọi người khác ngoại trừ người bị can dự), thì bắt đầu từ giả định: "Tôi phải kinh nghiệm mối tương giao tình cảm này một mình, bởi vì không ai khác sẽ hiểu: họ sẽ nghĩ - khởi từ những nhà đào luyện của tôi - rằng đây là một người con gái như tất cả những người khác, đang khi trái lại, nàng là cá nhân độc đáo, không thể lập lại", v.v...., [điều ấy] quả thật tiêu biểu. Một cách cơ bản, không chút nghi ngờ rằng từng người là độc nhất và không thể lập lại và vì lẽ này, ta không thể cho một "công thức món ăn làm sẵn"; nhưng chúng ta đều là con người, một cách thực tế, là nam hay nữ, và vì lẽ này có thể có những tiêu chuẩn; chúng cho phép chúng ta định vị và phân định từng người cách khách quan bao có thể, và nhất là giúp đỡ nhau, thay vì tính riêng biệt không thể chối cãi của từng tình trạng.

d. Với ý định vượt thắng chủ nghĩa hình thức này, chúng ta cần hiểu rằng điều quan trọng không chỉ là có kinh nghiệm, nhưng giá trị của kinh nghiệm chúng ta đang có: Nghĩa là, nội dung của nó. Ở đây chúng ta đảm nhiệm điều được nói trước kia, nghĩa là, nhu cầu vượt thắng một loại giáo dục-đào luyện mang tính tri thức (intellectual) vốn giả bộ nội tâm hóa nội dung sống động mà không kinh nghiệm nó. Nói mạnh mẽ, và như đang chơi chữ: điều quan trọng [đáng kể] không phải là giá trị của kinh nghiệm, nhưng là kinh nghiệm về giá trị phải được nội tâm hóa và hấp thụ. Trong HL Salêdiêng, khoản luật cốt lõi tìm cách để đặc trưng hóa đào luyện như một tiến trình liên tục mang tựa đề: "Kinh nghiệm đào luyện"; nó được miêu tả: "Người Salêdiêng tiếp thụ bằng kinh nghiệm những giá trị của ơn gọi Salêdiêng trong những giai đoạn khác nhau của cuộc sống và chấp nhận việc khổ chế mà con đường ấy đòi hỏi." (HL SDB 98).

Trong đời sống Đức Phật chúng ta tìm thấy một truyền thuyết và câu truyện rất ý nghĩa. Từ lúc ngài sinh ra, bố ngài muốn ngài tránh được bất kỳ loại kinh nghiệm "tiêu cực" nào mà có thể làm cho tầm nhìn lạc quan của ngài về cuộc sống lâm nguy: trong thực tế, lão, bệnh, tử. Tuy nhiên, mối quan tâm này lại phản tác dụng: Chỉ cần một cơ hội khi ngài gặp nhiều tình trạng: một kẻ ốm, một người già và một đám ma, trong lúc ngài ra khỏi nhà - điều ấy đủ cho ngài để bị đẩy vào một khủng hoảng gây suy nhược.

Thông thường, với những ý hướng tốt lành nhất, chúng ta muốn làm một điều gì tương tự trong những lãnh vực khác nhau của đời thánh hiến, đặc biệt trong giai đoạn ban đầu. Nhưng một thái độ như thế, thay vì mang tính đào luyện, lại dị dạng sâu xa. Hẳn nhiên, người ta cần phải nói rằng những hội viên trẻ của chúng ta, và không chỉ những người trẻ mà thôi, không kinh nghiệm một khủng hoảng khi thấy một bà già gần chết, nhưng đúng hơn khi nhìn vào một thiếu nữ trẻ đẹp, đầy sức sống: và cách riêng khi chúng ta cố gắng giữ họ xa khỏi bất kỳ kinh nghiệm "nguy hiểm nào" trong lãnh vực những mối liên hệ tình cảm với người khác phái.

5. ĐÀO LUYỆN TỚI TỪ BỎ

Cuối cùng, và vẫn liên quan đến việc vượt thắng "chủ nghĩa hình thức", chúng ta cần phải nói một cái gì đó về thực tại mà trong thời đại chúng ta hơn bất kỳ thời đại khác, có nghĩa là "đi ngược dòng chảy": Đào luyện tới từ bỏ. Nói cách nghịch lý, chúng ta cần tán trợ chính kinh nghiệm nói 'không'. Nó không phải là một vấn đề nhìn đến những lần đã qua đi ở đó việc thực thi này có một tính chất rất hình thức: việc quan trọng nhất ở đó là học để nói không ... để từ khước, để "tôi luyện ý chí". Thay vào đó, thật cốt yếu là phải tái khám phá giá trị nhân bản và Kitô hữu của sự từ bỏ chân chính, là phải có thể sống một kinh nghiệm vốn làm phong phú, theo một cách thức mà ta có thể đảm nhận nó cách tích cực mà không dẫn tới sự suy sụp thần kinh.

Trong dụ ngôn ngắn của Tin Mừng về người thương gia và va viên ngọc quí (Mt 13:54-46) chúng ta tìm thấy một vài yếu tố cơ bản mà cho phép chúng ta mô tả "hiện tượng luận của sự từ bỏ."

a. Người ta từ bỏ những viên ngọc quí ("người thương gia đi và bán điều ông có") không phải bởi vì chúng là giả: xét cho cùng, chúng rất là chân thực, và cho đến lúc đó chúng cấu thành sự giàu có của người thương gia. Áp dụng điều ấy cho thực tại chúng ta; chắc chắn, cố gắng giảm thiểu giá trị của điều phải được từ bỏ, cố gắng làm nó thành một cái gì dễ làm, đấy quả không phải là một phương pháp thích hợp. Tận sâu, từ bỏ "những điều xấu" không làm nên sự từ bỏ sâu xa nhất và hoàn toàn nhân bản. Bao nhiêu lần chúng ta đã nghe lời yêu cầu, như kháng lại điều phải được từ bỏ: "điều gì là xấu quanh điều tôi đang làm" ? Và người nói thế thì đúng: chỉ như thế người đó phải hiểu rằng chính vì là như vậy mà cơ hội bày tỏ chính mình để đảm nhận sự từ bỏ theo nghĩa chân chính nhất của nó.

b. Người ta từ bỏ những viên ngọc chân chính cách buồn sầu và đồng thời vui tươi, bởi vì người ta tìm thấy được "chính" viên ngọc tối hậu, viên ngọc sẽ hoàn thành tầm nhìn và cõi lòng của người thương gia: và ông hiểu rằng ông không thể mua nó trừ phi ông bán chính những cái khác. Nếu đời thánh hiến chúng ta, được tập trung vào việc theo và bắt chước Chúa Giêsu, không lôi cuốn, thì sự từ bỏ mà nó đòi hỏi trở thành bất chính và vô nhân... Như Potissimum Institutioni bàn nó cách sáng tỏ: "Chỉ tình yêu này của một nhân cách tự nhiên hàm ẩn tất cả cảm tính của một nhân vị, mới cho phép chúng ta động viên và nâng đỡ sự từ bỏ và những thập giá mà kẻ muốn "mất sự sống" mình vì Đức Kitô và Tin Mừng Người nhất thiết tìm thấy dọc theo con đường ấy (x. Mc 8:35)" (n. 9).

c. Niềm vui sở hữu được "viên ngọc quí" không bao giờ lấy đi nỗi sợ hãi rằng có lẽ nó không chân chính: Ở đâu nó chuyển sang sai lầm, ở đấy quyết định của tôi sẽ sai lầm, và tôi sẽ hủy hoại đời tôi. "Nguy cơ" này trong đời Kitô hữu, và thậm chí còn hơn thế nữa trong đời thánh hiến, là một hệ quả trực tiếp của đức tin: chỉ trong đức tin mà đời sống chúng ta mới có ý nghĩa. Nếu điều chúng ta tin không chân thật, "chúng ta đáng thương hơn bất kỳ ai, để diễn giải thánh Phaolô (x. 1 Cr 15:19). Ngày mà, trong bất kỳ khía cạnh nào của đời thánh hiến, chúng ta có thể nói: "đời của tôi hoàn toàn mãn nguyện, mặc dù điều tôi tin thì không chân thật", thì Tu hội chúng ta trở thành một ...NGO (một tổ chức phi chính phủ), với vấn đề hơn nữa là đòi hỏi một số yêu cầu không thể chấp nhận được từ những thành viên của mình.

d. Đang khi lại chơi chữ, chúng ta không chỉ cần cổ xúy kinh nghiệm của sự từ bỏ nhưng trong nhiều trường hợp, còn cần cổ xúy sự từ bỏ của những kinh nghiệm; đây là một trong những điều khó khăn nhất để hiểu và chấp nhận ngày nay. Chẳng hạn, chúng ta hãy nghĩ đến lãnh vực tình cảm (và phái tính): theo những ý hướng tốt nhất, có những người nghĩ rằng từ bỏ sẽ đến dễ dàng cho họ nếu họ sống kinh nghiệm tương ứng: "Ít nhất, rồi tôi biết mình đang từ bỏ cái gì." Tận sâu, đây là ảo vọng: chúng ta không thể theo tất cả mọi lối đường mà cuộc đời cống hiến cho chúng ta, rồi tiếp một bước nữa, [chúng ta] chọn lối đi đúng. Điều quyết liệt - và một đào luyện vững chắc phải giúp điều này - là nhân vị phải lấy quyết định này cách trưởng thành (quyết định = một chữ có nghĩa, trong nguyên ngữ của nó, "cắt đứt"), và không phàn nàn về cái còn lại của đời sống mà về đó họ không kinh nghiệm, một điều mà khuyếch đại kinh nghiệm một cách không thể né tránh: trái cấm thì luôn là trái đáng ước ao nhất.

6. BỐI CẢNH HÔM NAY: HẬU THỜI MỚI

Với hy vọng rằng từ một viễn cảnh biệt loại, mọi sự được nói cho đến lúc này kính trọng tình trạng nhân học của đời thánh hiến, chúng ta cần tự hỏi: Tất cả điều này có phải là một sự mới mẻ trong thời đại chúng ta không? Hay như đã nói lúc đầu, chúng ta chỉ đang bàn đến một sự nhấn mạnh những khía cạnh vốn đã luôn ở đó, ít nhất cách mặc nhiên?

Hiển nhiên, chúng ta không thể nói về "sự mới mẻ" tuyệt đối bởi vì điều này sẽ không để ý rằng, như những con người, có một sự tương tự không thể nghi ngờ cho mọi thời và mọi chốn. Đang khi dùng một diễn đạt của Mircea Eliade, chúng ta cần phải nói rằng chúng ta có cùng "cấu trúc nguyên mẫu" hay, dùng một hình ảnh đơn giản hơn: mặc dù bức ảnh được chụp của mỗi người là khác nhau thì quang tuyến X rất tương tự.

Dù vậy, từ thời khắc chúng ta ngày nay nói về một kỷ nguyên mới mẻ và khác biệt theo phẩm chất trong lịch sử nhân loại, điều này hàm ẩn những yếu tố mà, ít nhất tới một mức lớn hơn hay nhỏ hơn, đã thay đổi tận căn. Thực tế, tôi quy chiếu tới một yếu tố mà sẽ hoàn toàn thích đáng cho cuộc thảo luận của chúng ta.

Dù luôn sống trong hiện tại (đây là một chân lý tự hiển nhiên), Con người là một "hữu thể của tương lai" (E. Bloch, W. Pannenberg): do chính bản tính của mình, họ đối diện với utopia (không tưởng), một cái gì chưa "xẩy ra" trong thế giới chúng ta và trong lịch sử. A fortiori, huống hồ, người ta nói điều này về thế hệ trẻ hơn vốn mang lối tiếp cận này tới tương lai trong chính căn tính tâm thể lý (psychosomatic), được viết vào trong tế bào "tầm thường nhất".

Chính vì thế chúng ta thấy một bi kịch trong tình trạng hậu thời mới: mối đe dọa của tương lai có ảnh hưởng (đè nặng) trên nhân loại, đặt chúng ta, nhất là đối với thế hệ trẻ hơn của chúng ta, trước một sự trái nghịch hiện sinh: một đàng với nhu cầu không thể cưỡng được đối với một chân trời tương lai, và đàng khác, với cái thiếu của chân trời này. Nếu chúng ta thêm vào điều này sự chống lại quá khứ từ phía của văn hóa giới trẻ ngày nay, chúng ta có thể hiểu cảm giác của họ là "bị nhốt kín" trong không gian nhỏ bé mà cái hiện tại cung cấp, mà không có giải đáp để làm ta có thể "kinh nghiệm thời khắc phù du." (l'attimo fuggente)

Mối đe dọa này tỏ ra bằng hai cách: một đàng, nơi điều mà J. Moltmann gọi là "sự đánh mất sự vô tội nguyên tử (ngây thơ thời nguyên tử) từ Hiroshima trở đi: Chúng ta biết - và tin tức mới đây nhắc nhớ chúng ta - rằng suốt vài thập niên, và lần đầu tiên trong lịch sử thế giới và nhân loại (từ điều chúng ta biết) có một khả thể tính thực sự (cụ thể tùy vào những quyết định do một số người thực hiện) là có thể thấy toàn nhân loại biến mất như một hệ quả của một sự xung đột hạt nhân. Sự kiện rằng các vị lãnh đạo quốc gia có thể đến một sự thỏa thuận khả thể nào đó về điều này không lấy đi nguy hiểm đó. Như  Moltmann nói, chúng ta không bao giờ có thể lấy lại sự ngây thơ đã mất của chúng ta.

"Kỷ nguyên chúng ta sống, mặc dù nó đã phải kéo dài mãi mãi, là kỷ nguyên cuối cùng của nhân loại... Chúng ta đang sống trong những thời tận cùng, nghĩa là khi mỗi ngày có thể xẩy ra cái kết tận."

Đàng khác - và không hoàn toàn không liên kết với điều đi trước - chúng ta tìm thấy mối đe dọa này trong sự suy thoái sinh thái hoàn vũ và không thể đảo ngược: hãy nghĩ đến không khí ô nhiễm, mất nước uống, rừng bị phá hủy, tới sự thao túng (bóc lột) chóng mặt năng lượng không thể tái tạo. Như Moltmann lại nói, "chúng ta đều bình đẳng... đối diện với tầng Ozone."

Sự "đàn áp từ bên ngoài" này của những chân trời tương lai là một sự kiện tiêu biểu của thời đại chúng ta, và là cơ bản cho sự hiểu biết về sự gắn bó có tính ám ảnh của chúng ta với hiện tại, và nhu cầu cho "sự thỏa mãn" tức thời vốn là đặc tính của thời hậu thời mới: vì nó không là như nhau để "muốn sống 'hôm nay'" trong viễn cảnh của ngày mai, được bỏ neo trong hôm nay, bởi vì có lẽ ngày mai sẽ không hiện hữu... Vài ngày trước một tờ báo, viết bài điểm sách của văn sĩ Hungary Imre Kertesz, người đoạt giải Nobel về văn chương, sử dụng diễn đạt này: "Có thể có con cái sau Auschwitz" không? (mà gợi nhắc một câu nổi tiếng: Có thể tin vào TC sau Auschwitz" không?). Đó là vấn đề mà ngày nay quá nhiều giới trẻ  hỏi khi đối diện với hôn nhân và gia đình: không phải với ảo tưởng của những thời xa xưa hơn ,nhưng với sự âu lo của việc đối diện tương lai chạm đến họ; có đáng để mang những hữu thể mới vào thế giới không?

Hiển nhiên "sự thiếu tương lai" này, theo một nghĩa hoàn toàn khác, cũng ảnh hưởng đời sống thánh hiến, cách riêng đối với những thế hệ mới.

7. "... TÔI CHỌN MỌI SỰ...!"

Chúng ta cũng có thể tiếp tục thăm dò những chiều sâu của đề tài về thời hậu thời mới, nhưng bằng cách đi tới những nghiên cứu chuyên môn mà anh em biết rõ. Tôi ưa thích mời anh em suy tư về hiện tại và tương lai tức thời của đời sống thánh hiến, hơn là những ý tưởng lý thuyết, bằng cách chiêm ngắm một hình ảnh về sự thánh thiện tiêu biểu hiện hành trong GH: thánh nữ Teresa Lisieux.

Giữa nhiều kinh nghiệm của thánh nữ, ngày nay chúng ta nhấn mạnh, cách chí lý, sự thiếu niềm tin và vô thần mà thánh nữ kinh nghiệm vào cuối đời. Thánh nữ biết cách khám phá TC như tặng phẩm, và để mặc lấy điều này theo cách tích cực nhất, như một loại tình liên đới với những người "xa khỏi TC". Nay tôi muốn nhấn mạnh một khía cạnh khác. Giữa nhiều kỷ niệm về thời thơ ấu của thánh nữ, một kỷ niệm thoạt nhìn thì hoàn toàn bình thường, nhưng lại có ý nghĩa đặc biệt. Một ngày kia chị Leonia, nghĩ mình qua tuổi chơi búp bê rồi, đi tìm thánh nữ với một rổ áo quần và những miếng vải để làm những áo quần khác, rồi cho từng đứa em lựa chọn. Khi đến lượt Teresa, thánh nữ kể cho chúng ta: "Tôi đưa tay ra nói: Em sẽ lấy cả phần ấy! và không chần chờ tôi lấy cả rổ." Chúng ta có thể nói: đây là một loại tiếp cận tiêu biểu "hậu thời mới", cho người không muốn từ bỏ bất kỳ cái gì.

Chúng ta không nói về sự bộc phát của tính ích kỷ trẻ con: tôi tin nó cho thấy một khía cạnh rất sâu xa trong nhân cách của thánh nữ. Thực vậy, nhiều năm sau, vàoi một trong những thời khắc quan trọng nhất của sự phân định thiêng liêng, sự thúc bách này lại nở rộ trong những trang mà đã trở thành một cổ điển trong linh đạo Kitô hữu:

"Tôi cảm thấy những ơn gọi khác trong chính mình: Tôi cảm thấy ơn gọi của người lính, của linh mục, tông đồ, tiến sĩ, tử đạo; nói tắt, tôi thấy nhu cầu, ước muốn hoàn thành cho Chúa Giêsu, tất cả những việc làm anh hùng nhất... Tôi cảm nhận trong tâm hồn sự can đãm của một người thập tự chinh, của hiệp sĩ giáo hoàng: tôi muốn chết trên chiến trường để bảo vệ GH... làm thế nào tôi có thể hòa hợp những đối kháng này? Làm thế nào tôi có thể hiện thực những ao ước của tâm hồn nhỏ bé nghèo hèn của mình? ... Trong cầu nguyện những ước ao của tôi làm tôi chịu khổ một sự tử đạo chân thật và thích đáng. Tôi mở lá thư của thánh Phaolô để tìm vài câu trả lời... Tôi đọc thấy rằng không phải mọi người là tông đồ, ngôn sứ, tiến sĩ, v.v.; rằng GH được tạo thành do những chi thể khác nhau, và con mắt không thể la tay cùng lúc... Câu trả lời quá rõ, nhưng nó không làm dịu ước ao của tôi, nó không cho tôi bình an... Không thất vọng tôi tiếp tục đọc và câu này đánh động tôi: 'anh em hãy nhiệt tâm tìm kiếm những ân điển hoàn hảo nhất: tôi sẽ chỉ cho anh em một ân điển còn tuyệt vời hơn.' Và vị tông đồ giải thích làm thế nào tất cả những ân điển hoàn hảo nhất đó là không không so với tình yêu... Cuối cùng tôi đã tìm được câu trả lời!... Đức ai cho tôi chìa khóa cho ơn gọi của tôi... Tôi hiểu rằng chỉ tình yêu làm cho các chi thể của GH làm điều họ làm: nếu tình yêu chết cạn, các tông đồ không còn loan báo Tin Mừng, các tử đạo từ khước đổ máu đào... Tôi hiểu rằng tình yêu ôm ấp mọi ơn gọi, tình yêu là mọi sự, tình yêu ôm ấp mọi thời gian và nơi chốn. Nói tóm, tìnhyêu là vĩnh cửu! Vậy, trong sự viên mãn của niềm vui cuồng nhiệt tôi kêu to: Ôi Giêsu tình yêu của con! Cuối cùng con đã tìm thấy ơn gọi của con.  Ơn gọi của tôi là tình yêu."

Chúng ta chỉ có thể đạt được điều dường như không thể được, theo mức chúng ta tập trung toàn hữu thể chúng ta vào tình yêu đối với TC và anh chị em, và hành động để tất cả việc đào luyện suốt đời có mục đích là tăng trưởng trong tình yêu: có "mọi sự trong chỉ một mảnh" (gợi lại Von Balthasar). Cách này chúng ta có thể mang lại, trong công việc thường ngày và trong những giới hạn của đời sống, và trong tính "độc nhất" của đời sống chúng ta, tính toàn thể của ơn gọi Kitô hữu: chúng ta sẽ hiểu rằng trong tình yêu ta có thể hiện thực được cái nghịch lý lạ thường, đấy là, có thể từ khước mọi sự và, đồng thời và chính bởi vì đó, một cách sâu thẳm, ta lại không từ khước bất kỳ cái gì vốn có thể cho phép chúng ta hiện thực sự hoàn thành đầy đủ; đây là cách thức mà vị thánh nữ dòng Carmel hiểu và kinh nghiệm nó...

8. SỰ TRUNG THÀNH TRONG KỶ NGUYÊN HẬU THỜI MỚI

Cơ bản, tất cả điều chúng ta vừa nói cố gắng để cống hiến một sự kiên định cho sự trung thành thánh hiến của chúng ta, trong thời đại khó khăn nhưng hấp dẫn mà chúng ta đang sống trong đó. Chúng ta đã chỉ ra từ đầu rằng chắn chắn văn hóa ngày nay không tán trợ thực hành sự trung thành: trong một vài khung cảnh thậm chí sự trung thành trong hôn nhân là "luật trừ".

Động cơ kinh thánh về điều này thì lớn và hấp dẫn. Từ ngữ Do thái, hesed, chung chung được dịch bằng "sự trung thành" trước tiên có nghĩa là sự vững chắc (solidity), sức mạnh, sự kiên trì qua thời gian, nhất là khi được áp dụng cho Giave, đối ngược với sự mỏng dòn của những lời hứa hẹn của nhân loại. Như một hệ quả Giao Ước được ký kết, từ một góc cạnh "pháp lý" cũng như cách riêng trong động cơ căn bản mà làm cho Giao ước thành có thể, nghĩa là sự vững chắc (solidity) của tình yêu TC. Theo nghĩa này, một nhà chú giải lớn bình giải: "sự việc ngạc nhiên nhất về dân Israel thì không phải rằng TC yêu thương họ cho bằng sự kiện rằng tình yêu này thật trung thành, tồn tại, bất chấp mọi sự" ( E. Jacob)

Có hai thánh vịnh đặc biệt ca hát về sự trung thành này của tình yêu TC: 117 (116) mà, trong sự ngắn ngủi của nó, lại là viên ngọc thật sự: " Muôn nước hỡi, nào ca ngợi Chúa... Vì tình Chúa thương ta thật là mãnh liệt, lòng thành tín của Người bền vững muôn năm."

Tương tự, các thánh vịnh "Hallel nổi tiếng" (136 (135)) ca hát không phải tình yêu TC cho bằng sự trung thành: "muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương." Sự đảm bảo này của tình yêu TC vốn thật vững chắc, vững mạnh, trung thành, tìm được sự sung mãn của mình trong Tân Ước, trong Giao Ước mới và vĩnh cửu, trong Đức Giêsu Kitô.

Trong yếu tính sâu xa nhất của nó, đời sống thánh hiến là một hôn ước với TC và lệ thuộc vào sự đảm bảo của Ngài; không may,  kẻ "đối tác" nhân loại trong Giao Ước có thể sai lầm (lầm lạc); nhưng ngay cả trong trường hợp này, " Người vẫn một lòng trung tín,  vì Người không thể nào chối bỏ chính mình." (2 Tm 2:13).

Sẽ thật rất phong phú để định vị sự trung thành trong cái "khung não trạng" của sử tính. Vì tôi không thể khai triển điều này dài dòng, tôi sẽ chỉ nhắc đến một vài khía cạnh thích đáng thôi.

Lúc đầu chúng ta chỉ tới tính chất liên tục của đào luyện, tức là, theo và bắt chước Đức Giêsu Kitô "cho tới chết". Tuy nhiên, thật đáng đi sâu hơn nữa vào trong tính "liên tục" này hầu điều xẩy ra cho nhiều cặp vợ chồng không xẩy ra cho chúng ta - tiếp tục chung sống qua sự "ì ạch", vì hạt nhân (lõi tủy), tình yêu, vốn trao ban ý nghĩa cho giao ước của họ, đã biến mất. Nếu chúng ta bắt đầu từ niềm tin rằng "đào luyện là lời đáp trả tự do đối với ơn gọi", chúng ta có thể rút ra kết luận sau đây: đào luyện liên tục có thể tiếp tục tồn tại với điều kiện là cũng có kinh nghiệm về ơn gọi liên tục. Chúa không gọi 10, hay 20 hay 50 năm trước. Ngài gọi chúng ta hôm nay, vào lúc 10, hay 20, hay 50 tuổi. Chỉ kinh nghiệm vui tươi này về một TC yêu chúng ta và kêu gọi chúng ta mới làm cho lời đáp trả hoàn toàn trung thành và vui tươi thành có thể được. Theo một cách thức hầu như không thể tri nhận chúng ta bao gồm lịch sử ở đây, kinh nghiệm, tự do và sự hoàn thành bản thân trong Đức Kitô.

Tuy nhiên, vẫn còn một vấn đề mà thế hệ ngày nay nhạy cảm cách đặc biệt. Chúng ta không thể chối bỏ sự quảng đại mà với nó nhiều người trẻ nam nữ hiến mình để phục vụ người khác, thường theo một cách thức toàn vẹn; tuy nhiên, điều này xảy ra cho một thời kỳ (kỳ gian) nhất định: sự việc khó khăn nhất là đảm trách một sự cam kết dứt khoát, công bố một "cái trọn đời", từ khước mọi khả thể thay đổi trên nguyên tắc. "Giá như đời sống tỏ cho tôi những lối đường khác? Giả như tôi sẽ tìm thấy người nam/nữ sẽ làm tôi hạnh phúc? Giá như những hoàn cảnh, nơi chốn, cộng thể, công việc mà ở đó tôi sống sẽ thay đổi tận căn?" Tất cả những câu hỏi này đồng ý với sự kiện rằng chúng làm cho sự trung thành lệ thuộc vào một tương lai bên ngoài chúng ta, mà chúng ta không thể tự mình xoay sở. Đối diện với điều đó, trong mọi giai đoạn đào luyện (cho đến khi chết) nhất thiết phải nhấn mạnh rằng sự trung thành chân chính không tùy thuộc vào "cái có thể xẩy ra", nhưng vào điều chúng ta đã quyết định và điều tôi canh tân hằng ngày: Tôi trung thành yêu mến Chúa, trong việc trao hiến toàn vẹn chính mình cho anh chị em của tôi.

Sự trung thành có một nét tiêu biểu vốn phân biệt nó khỏi những nhân đức khác. Chúng ta có thể so sánh nó trong cảnh sắc nghệ thuật, âm nhạc, được so sánh với hội họa, điêu khắc. Trong một phút giây lẻ chúng ta có thể chiêm ngắm một bức tượng đẹp hay một bức họa nổi tiếng; nhưng tôi không thể lắng toàn bản giao hưởng thứ 9 của Beethoven và tiếng sao huyền ảo của Mozart, vào cùng một lúc. Ở đây chúng ta cần thời gian và "sử tính" như một giải thích... Tương tự, trung thành không thể được hiện thực trừ phi như một kinh nghiệm "lịch sử"... Trung thành không sợ hãi tương lai, chính bởi vì nó chỉ có thể hiện thực được đúng thực trong tương lai; và nhất là khi nói về sự trung thành của tình yêu và trong tình yêu, được sống trong sự sung mãn, ngay cả ở bình diện nhân bản chỉ trên những chân trời của "vĩnh cửu". Nietzsche nói: "mọi vui thú đòi hỏi vĩnh cửu". Một cách nghịch lý, điều dường như là liều lĩnh trở thành điều kiện bất khả thế cho tính khả thể tương lai.

Tôi sẽ hạnh phúc để kết thúc phần này với một bản văn rất đẹp mà tôi chắc nhiều người anh em đã nghe hay đọc một ít thập niên trước. Nó được lấy từ lá thư nổi tiếng về độc thân linh mục do Karl Rahner. Đang khi ngỏ cho người đang nói với ông, ông hỏi:

"Những câu hỏi pháp lý này sẽ có giá trị nào cho bạn và tất cả những đề xướng pháp lý cho tương lai, nếu bạn còn trung thành với đời sống và những quyết định cơ bản của mình? cơ bản, chẳng có gì. Bạn sẽ cho tôi diễn tả chính mình cách rõ ràng và ngay thẳng chứ? Tôi không chờ đợi cái "tương lai", như cái mặt nạ khủng khiếp ở Nhà thờ Chính Tòa Freiburg trình bày một Nữ Tu già khọm tỏ cho thấy chiếc răng cuối cùng để làm cho người ta biết rằng không bao giờ quá muộn để lập gia đình. Tôi đã chọn... Tôi là một linh mục. Tôi không phàn nàn (hối tiếc) về điều này."

9. KẾT LUẬN

Nếu tôi phải kết thúc suy tư này với một lời mời để làm một mối tương giao giữa những nhân đức thần học và chiều kích của thời gian, tôi tưởng tượng nó dường như không hợp chỗ và không thích đáng. Tôi sẽ cố gắng cho thấy tính vững chắc (validity) của nó như một kết luận và dự phóng cho tương lai.

Trong cuốn Quijote, Cervantes nói rằng không có cuốn sách nào, bất kể nó xấu đến mấy, mà không có một cái gì tốt quanh nó. Tôi áp dụng điều này cho một công việc mà đã xuất hiện trong thập niên 60 và đó được coi như diễn đạt triệt để nhất của nền "thần học về cái chết của TC: Tin Mừng của chủ nghĩa vô thần Kitô hữu, do nhà thần học  Mỹ Toma J. J. Altizer. Những người phê bình tử tế nhất bình giải về cuốn cách này một cách nực cười (mỉa mai, ironically) rằng đó không phải là tin mừng, vô thần hay Kitô hữu. Tuy vậy, về cuối, tác giả đưa ra một thách đố (tựa đề cuối cùng của chương cuối là thế) mà chúng ta có thể đảm trách và cho phép chúng ta hiểu hơn điều chúng ta muốn nói.

Tác giả đặt "những nhân đức đối thần" (không dùng hạn từ như thế) trong mối liên hệ chặt chẽ với những chiều kích của thời gian: đức tin với quá khứ, hy vọng với tương lai, tình yêu với hiện tại; rồi nói: bất kỳ ai muốn đặt nền chính mình trên đức tin vẫn còn ở trong một quá khứ không đúng thời đúng buổi; bất kỳ ai muốn sống trong hy vọng đang ẩn náu trong một tương lai không hiện hữu; vậy tất yếu phải chống lại hai lối tiếp cận ấy, để sống trong hiện tại liên tục trong tình yêu; đời sống Kitô hữu được giản lược vào trong cái thay đổi này, theo Altizer. Theo một cách nào đó ta tìm thấy cùng ý tưởng này trong lời giải thích hậu thời mới về sự nhập thể của Con TC trong Gianni Vattimo, trong cuốn Credere di Credere.

Như được nói trước kia mối liên hệ giữa những nhân đức đối thần và những chiều kích thời gian là một liên hệ có tính chất đề xướng, mặc dù bản tính của nó như một "cái thay thế' có thể không chấp nhận được: hoặc cái này hoặc cái khác. Trái lại, chỉ trong sự xen nhập toàn vẹn của nó, như một thái độ đối thần tam diện, với một nền tảng nhân học vững chắc, ba nhân đức này có thể tìm thấy ý nghĩa sung mãn. Mặc dù sự kiện rằng tình yêu là quan trọng nhất thì không phải để thảo luận, nó nhất thiết phải nhấn mạnh rằng không có một tình yêu Kitô hữu mà không có đức tin Kitô hữu và niềm hy vọng Kitô hữu: " Ðây là điều răn của Người: chúng ta phải tin vào danh Ðức Giêsu Kitô, Con của Người, và phải yêu thương nhau, theo điều răn Người đã ban cho chúng ta." (1 Ga 3:23).

Thay vì phàn nàn về thời đại hiện tại của mình, chúng ta hãy đảm nhận lấy một cách đáng tin, trong Chúa, thách đố mà Ngài ban cho chúng ta: chỉ bắt đầu từ một đức tin vững chắc vốn nuôi dưỡng "một đức cậy sống động" và tỏ lộ chính mình trong tình yêu cụ thể và vô điều kiện đối với TC và anh chị em của mình nơi họ chúng ta nhìn thấy khuôn mặt của Chúa Giêsu, mà sự trung thành của chúng ta trong đời sống thánh hiến mới có thể thích đáng, như nó đã là trong truyền thống của các tu hội chúng ta, bắt đầu với Đấng Sáng lập nam nữ của chúng ta. Chỉ một hiện tại mà trung thành với quá khứ và mở rộng trước tương lai của nó mới có thể thích đáng và có ý nghĩa, trong cái hiện tại tiếp diễn của sự phục vụ TC và thế giới, từ tình yêu.

Một cây khỏe mạnh và mạnh mẽ khi gốc rễ của nó đi xuống vào trong những chiều sâu của lòng đất; khi thân của nó chỉ tới bầu trời, tiếp nhận nhựa sống mà gốc rễ cho nó và cổ xúy qua các lá cành sự khai sinh và chín muồi của hoa quả. Nếu không có gốc rễ đức tin được nắn hình lại trong một quá khứ lịch sử cụ thể  và thực sự, nếu không có một thân đức cậy nào khai mào chúng ta hướng tới tương lai, và không có những hoa trái tình yêu, luôn hiện tại, chúng ta sẽ là một cây khô mà tốt hơn sẽ là đốn đi ngay để dùng làm củi hay đơn giản để mặc nó mục thối. Chúng ta hãy xin Thần khí TC với sự trợ giúp từ mẫu của Đức Maria làm phấn chấn các tu hội chúng ta theo một cách thức đến nỗi mỗi người có thể làm nên một rừng, một khu rừng cống hiến bóng mát, thanh lọc không khí ô nhiễm được thế giới chúng ta thở ra và sản xuất những hoa quả cứu độ phong phú cho tất cả anh chị em mà Chúa sai chúng ta tới!

Pascual Chavez

Bề Trên Cả dòng Sa-lê-diêng Don Bosco

 

 

Đánh giá bài suy niệm
(0 số lần đánh giá)
Số Lần đọc 1185 lần
:

Giới Thiệu

Lời Chúa là lương thực nuôi dưỡng tâm hồn, là ánh sáng soi đường dẫn lối cho cuộc sống. Việc lắng nghe và suy niệm Lời Chúa sẽ giúp mỗi người nhận biết lối đường để đi, phương cách để hành động, đồng thời bổ dưỡng tâm hồn con người trên đường về với Người.

Cùng với các bạn, website Lời Chúa cũng mong được góp những suy tư nhỏ bé của mình qua những bài suy niệm, với ước mong Lời Chúa sẽ giúp chúng ta được biến đổi mỗi ngày nên giống Người hơn.


Default Theme
Layout Direction
Body
Background Color [r]
Text color [r]
Top
Top Background Image
Background Color [r]
Text color [r]
Bottom
Bottom Background Image
Background Color [r]
Text color [r]